- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Xuân V - phạm tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (điều 244 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cao Xuân V phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.
- Căn cứ chính? Điều 244 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2021/HS-ST Ngày 24 -3-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BỐ TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trung Thành.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hải và ông Dương Quốc Phòng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhạn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Lưu Minh Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 3 năm 2021, tại Trụ sở UBND xã Thượng Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2021/TLST-ST ngày 09 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2021/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:
Cao Xuân V; tên gọi khác: không; sinh ngày 10 tháng 8 năm 1974, tại huyện M, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: Bản A, xã T, huyện M, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 0/12; dân tộc: Chứt; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Xuân M (đã chết) và bà Cao Thị V (đã chết); vợ: Cao Thị C và 05 con; tiền án: không; tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/4/2020 cho đến ngày 31/01/2021; sau đó chuyển sang tạm giam từ ngày 01/02/2021 cho đến nay. Có mặt
- Bị hại: Ban quản lý Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng; Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Hồng T - Chức vụ: Giám đốc. Đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Huy T- Phó giám đốc. Có mặt
- Người bào chữa cho bị cáo Cao Xuân Việt: Ông Lê Thanh H- Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q. Có mặt
- Người làm chứng:
+ Anh Nguyễn Văn M- Cán bộ Trạm Kiểm lâm Chà Nòi - Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia Phong Nha- Kẻ Bàng. Vắng mặt
+ Anh Nguyễn Văn H- Cán bộ Tổ Kiểm lâm cơ động số 2- Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia Phong Nha- Kẻ Bàng. Vắng mặt
+ Anh Trần Nguyên T- Cán bộ Trạm Kiểm lâm Thượng Hóa - Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia Phong Nha- Kẻ Bàng. Vắng mặt
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Trần Xuân H, sinh năm 1989; nơi cư trú: Bản A, xã T, huyện M, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt
+ Ông Cao Xuân B, sinh năm 1967; địa chỉ: Bản A, xã T, huyện M, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trưa ngày 18/12/2019, tại khu vực Hang Thánh thuộc khoảnh 9, tiểu khu 595 lâm phận Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng thuộc địa giới hành chính xã Thượng Trạch; Tổ công tác Hạt kiểm lâm Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng phát hiện Cao Xuân V đang ngồi ăn cơm cùng với Trần Xuân H (con rể V) tại lán ở khu vực phía trong Hang Thánh. Tại hiện trường phát hiện bên bếp lửa đang phơi 04 cá thể linh trưởng, bị cạo lông, không còn nội tạng và được sấy khô cùng 01 khẩu súng kíp tự chế, 10 kíp nổ tự chế và 56 viên đạn bi; 01 con dao tông cũ. Tại thời điểm bị bắt giữ, V khai nhận chính mình dùng súng kíp để săn bắn số động vật nói trên, còn H không liên quan gì đến hành vi săn bắn và hai người tình cờ gặp nhau khi H vào rừng lấy cỏ máu cho vợ mới sinh. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án V thay đổi lời khai ban đầu và thừa nhận chính H mới là người người rủ rê và chuẩn bị mọi vật dụng cho việc săn bắt, V chỉ tham gia với vai trò là người giúp sức.
Theo lời khai của V sau khi hồ sơ vụ án đã được trả lại để điều tra bổ sung có nội dung cụ thể như sau: Ngày 14/12/2019, Trần Xuân H đến rủ V vào rừng phụ giúp H cùng săn bắn động vật bán lấy tiền mua gạo thì V đồng ý. Trước khi vào rừng, H chuẩn bị sẵn gùi chứa các vật dụng sinh hoạt và dụng cụ săn bắt, V chỉ mang theo 01 con dao tông. Khi đến căn lều hoang trên rẫy ở Bản A, H lấy 01 khẩu súng kíp tự chế và đạn đã giấu ở đó từ trước để mang đi. Đến khoảng sáng ngày 17/12/2019, tại vị trí cách Hang Thánh khoảng 01 km, H dùng súng kíp bắn chết 01 cá thể giống Vọoc đen Hà Tĩnh và đưa cho V mang về lán mổ lấy toàn bộ nội tạng để nấu ăn, phần còn lại cạo lông và hơ trên bếp lửa phơi khô. Trong khoảng thời gian từ chiều 17/12/2019 đến sáng ngày 18/12/2019, H tiếp tục sử sụng súng kíp bắn chết 03 cá thể giống Vọoc Chà Vá chân đỏ rồi tiếp tục mang về lán cho V mổ lấy nội tạng để sấy khô. Đến khoảng trưa 18/12/2019, khi H và V đang cùng ăn cơm thì bị lực lượng kiểm lâm Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng kiểm tra phát hiện bắt quả tang và lập biên bản thu giữ vật chứng gồm: 04 cá thể động vật rừng thuộc bộ linh trưởng, có trọng lượng 14,6 kg, đã chết, bị mổ bụng lấy nội tạng, bổ đầu lấy não, sấy qua lửa, trong đó có 01 cá thể bị chặt đuôi; 01 súng kíp có chiều dài 1,84 m, báng súng làm bằng gỗ dài 70 cm, nòng súng làm bằng sắt dài 146 cm, dạng súng tự chế; 01 con dao tông dài 40 cm, cán làm bằng gỗ dài 11 cm, lưỡi làm bằng sắt dài 29 cm; 56 viên bi làm bằng chì để làm đạn súng kíp được đựng trong 01 hộp nhựa; 10 kíp nổ tự chế.
Theo kết quả giám định số: 670/KLGĐ - VQG ngày 31/12/2019 của Ban quản lý Vườn Quốc Gia Phong Nha - Kẻ Bàng kết luận: 01 cá thể động vật rừng thuộc đối tượng giám định thứ nhất là loài Vọoc đen Hà Tĩnh, tên khoa học Trachypithecus hatinhensis; 03 cá thể động vật rừng thuộc đối tượng giám định thứ hai là của loài Vọoc chà vá chân đỏ, tên khoa học Pygathrix nemaeus. Cả 02 loài trên là động vật rừng thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm nhóm IB theo quy định tại Nghị định 06/2019/NĐ - CP ngày 22/01/2019 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp; thuộc loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ theo quy định tại Nghị định số 160/2013/NĐ - CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, được sửa đổi bởi Nghị định số 64/2019/NĐ - CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ.
Kết luận giám định số 175/GĐ - PC 09 ngày 06/3/2020 của Phòng ký thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình kết luận: Khẩu súng mà các đối tượng sử dụng để săn bắn động vật rừng là súng tự chế, có tính năng, tác dụng tương tự súng kíp, thuộc danh mục súng săn; 56 viên kim loại và 10 mảnh giấy hình chữ nhật, ở giữa có hạt màu nâu đỏ là thành phần của đạn sử dụng cho khẩu súng trên. (BL: 24 - 25, 33 - 34, 45, 53 - 55, 85 - 91, 150 - 157).
Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra đã thu giữ các vật chứng gồm: 01 cá thể Vọoc đen Hà Tĩnh có trọng lượng 04 kg, đã chết, bị cạo lông, không còn nội tạng và não, bị sấy qua lửa, bị cắt đuôi và 03 cá thể Vọoc chà vá chân đỏ có tổng trọng lượng 10,6 kg, đã chết, bị cạo lông, không còn nội tạng và não, bị sấy qua lửa; 01 súng kíp có chiều dài 1,84 m, báng súng làm bằng gỗ dài 70 cm, nòng súng làm bằng sắt dài 146 cm, dạng súng tự chế; 01 con dao tông dài 40 cm, cán làm bằng gỗ dài 11 cm, lưỡi làm bằng sắt dài 29 cm; 56 viên bi làm bằng chì để làm đạn súng kíp được đựng trong 01 hộp nhựa; 10 kíp nổ tự chế (BL: 15).
Cáo trạng số: 17/CT-VKSBT, ngày 04/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình truy tố Cao Xuân V về tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo quy định tại điểm a, g, h khoản 2 Điều 244 Bộ Luật hình sự 2015. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:
- Về hình phạt: Áp dụng điểm a, g, h khoản 2 Điều 244, điểm m, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự: xử phạt Cao Xuân Việt mức án từ 42 tháng tù đến 48 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền và án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo
- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 cá thể Vọoc đen Hà Tĩnh có trọng lượng 04 kg, đã chết, bị cạo lông, không còn nội tạng và não, bị sấy qua lửa, bị cắt đuôi và 03 cá thể Vọoc chà vá chân đỏ có tổng trọng lượng 10,6 kg, đã chết, bị cạo lông, không còn nội tạng và não, bị sấy qua lửa; 01 súng kíp có chiều dài 1,84 m, báng súng làm bằng gỗ dài 70 cm, nòng súng làm bằng sắt dài 146 cm, dạng súng tự chế; 01 con dao tông dài 40 cm, cán làm bằng gỗ dài 11 cm, lưỡi làm bằng sắt dài 29 cm; 56 viên bi làm bằng chì để làm đạn súng kíp được đựng trong 01 hộp nhựa; 10 kíp nổ tự chế. Ngoài ra, đề nghị Hội đồng xét xử kiến nghị với Cơ quan Công an huyện Bố Trạch xem xét xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo theo quy định về việc quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, pháo và đồ chơi nguy hiểm bị cấm theo quy định tại Điều 10, Nghị định số: 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính Phủ quy định về xử phạt hình chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội…
- Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, thuộc diện hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.
- Tại phiên tòa:
+ Đại diện bị hại trình bày: Trong suốt quá trình thực hiện công tác bảo tồn về đa dạng sinh học, các cấp các ngành đã có nhiều biện pháp tuyên truyền sâu rộng về tầm quan trọng trong công tác bảo vệ các loài động vật nguy cấp, quý hiếm trong quần chúng nhân dân. Tuy nhiên, chỉ vì lợi ích trước mắt các đối tượng săn bắt vẫn bất chấp sự nghiêm minh pháp luật để thực hiện hành vi săn bắt với lỗi cố ý. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm răn đe giáo dục phòng ngừa chung.
+ Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Bị cáo là người dân tộc, thuộc diện hộ nghèo, đông con, không nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình hết sức khó khăn. Bị cáo không biết chữ và sinh sống ở vùng xa xôi hẻo lánh với phong tục tập quán sinh hoạt tại địa bàn cư trú còn nhiều lạc hậu, cho nên sự am hiểu xã hội và nhận thức pháp luật hết sức hạn chế. Bị cáo phạm tội lần đầu, có vai trò thứ yếu, không trực tiếp sử dụng súng để săn bắt và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị là quá nặng mà chỉ cần xử phạt bị cáo mức án từ 30 đến 36 tháng tù cho hưởng án treo là đã thể hiện được tính nghiêm minh của pháp luật và đảm bảo chính sách của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào dân tộc thiểu số.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên rất ăn năn hối cải và mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Phiên tòa vắng mặt những người làm chứng và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Tuy nhiên sự vắng mặt của những người này không gây cản cản trở cho việc xét xử, cho nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về hành vi phạm tội và tội danh: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ quá trình thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp về không gian, địa điểm bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội; phù hợp với các dấu vết để lại trên các công cụ phạm tội được thu giữ quả tang và các cá thể thú được thu giữ tại hiện trường. Trên cơ sở kết luận giám định của các cơ quan chuyên môn cũng như các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Theo lời khai nhận tội của bị cáo thì trong khoảng thời gian từ ngày 14/12/2019 đến 17/12/2019, Trần Xuân H đã rủ rê bị cáo đi vào khu vực Hang Thánh thuộc khoảnh 9, tiểu khu 595, lâm phận Vườn Quốc Gia Phong Nha- Kẻ Bàng (Là khu vực rừng tự nhiên, thuộc loại rừng đặc dụng, nằm trong Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt) thuộc địa giới hành chính xã Thượng Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình nhằm mục đích săn bắt thú rừng để làm thức ăn và bán kiếm tiền mua gạo thì bị cáo đồng ý đi theo phụ giúp. Tại khu vực Hang Thánh, H đã sử dụng súng kíp bắn chết 01 cá thể Vọoc đen Hà Tĩnh có tên khoa học Trachypithecus hatinhensis và 03 cá thể Vọoc chà vá chân đỏ, có tên khoa học Pygathrix nemaeus và mang tất cả các các thể Vọoc trên về lán giao cho V dùng con dao tông mổ lấy nội tạng làm thức ăn, còn thân đem sấy khô trên lửa để mang về bán. Theo kết luận giám định của cơ quan chuyên môn, 04 cá thể được thu giữ đều là động vật rừng thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm thuộc nhóm IB theo quy định tại Nghị định 06/2019/NĐ - CP ngày 22/01/2019 của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp; thuộc loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ theo quy định tại Nghị định số 160/2013/NĐ - CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về tiêu chí xác định loài và chế độ quản lý loài thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, được sửa đổi bởi Nghị định số 64/2019/NĐ - CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ.
Từ những lời khai nhận tội của bị cáo V nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định V đã có hành vi đồng phạm với đối tượng H trong việc sử dụng súng kíp bắn chết 04 cá thể động vật nguy cấp, quý hiếm trong khu vực bị cấm với lỗi cố ý. Do đó, hành vi phạm tội của V đã thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật, nguy cấp, quý hiếm” theo quy định tại điểm a, g, h khoản 2 Điều 244 của Bộ luật hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết 05/2018/NQHĐTP ngày 05/11/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc áp dụng Điều 234 và Điều 244 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, không những trực tiếp xâm hại các loài động vật nguy cấp, quý hiếm thuộc khách thể pháp luật hình sự bảo vệ, mà còn gây mất an ninh, trật tự tại khu vực rừng đặc dụng được bảo vệ nghiêm ngặt, làm ảnh hưởng lớn đến công tác bảo tồn đa dạng sinh học được Nhà nước hết sức quan tâm bảo vệ. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo gây ra, nhằm góp phần răn đe phòng ngừa chung.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người đã trưởng thành nhưng không có trình độ học vấn, cho nên am hiểu về pháp luật và đời sống xã hội hết sức hạn chế; có nhân thân tốt, từ trước đến nay chưa từng bị xử lý về hành vi vi phạm pháp luật nào và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo cơ bản có thái độ thành khẩn trong khai báo và tỏ rõ thái độ ăn năn, hối cãi. Bản thân bị cáo là người dân tộc, không biết chữ và sinh sống tại địa bàn hẻo lánh với phong tục tập quán còn nhiều lạc hậu; gia đình và bản thân bị cáo thuộc diện hộ nghèo tại địa phương, đời sống hết sức khó khăn. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm m, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Căn cứ vào nhân thân, vai trò, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử thấy rằng cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới có đủ tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo; đồng thời góp phần đấu tranh, phòng ngừa hành vi săn bắt thú rừng đang có chiều hướng ngày càng gia tăng. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo, phạm tội do lạc hậu, hoàn cảnh bản thân và gia đình khó khăn, là người dân tộc thiểu số nên hiểu pháp luật và đời sống xã hội còn nhiều hạn chế và có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, cho nên đủ điều kiện được xem xét áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo quy định tại Điều 54 của Bộ luật hình sự nhằm thể hiện được chính sách khoan hồng của pháp luật.
- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 4 Điều 244 Bộ Luật hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng....”. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo thuộc diện hộ nghèo, không có công việc và nguồn thu nhập ổn định, cho nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Quá trình giải quyết vụ án đã thu giữ và xử lý các vật chứng có liên quan như sau:
- Đối với 04 cá thể Voọc (đều đã chết) nhưng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy. Theo Nghị quyết 05/2018/NQHĐTP ngày 05/11/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 234 và Điều 244 của Bộ luật hình sự thì việc xử lý số vật chứng này được giao cho Hạt kiểm lâm Vườn Quốc gia Phong nha-Kẻ Bàng để xử lý theo quy định pháp luật.
- Đối với 01 súng kíp có chiều dài 1,84 m, báng súng làm bằng gỗ dài 70 cm, nòng súng làm bằng sắt dài 146 cm, dạng súng tự chế; 01 con dao tông dài 40 cm, cán làm bằng gỗ dài 11 cm, lưỡi làm bằng sắt dài 29 cm; 56 viên bi làm bằng chì để làm đạn súng kíp được đựng trong 01 hộp nhựa; 10 kíp nổ tự chế là công cụ mà bị cáo sử dụng vào việc phạm tội là vật cấm lưu hành nhưng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Theo quy định của pháp luật thì bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, thuộc diện hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí nên thuộc đối tượng được miễn nộp tiền án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBNTVQH-14 quy định về án phí lệ phí Tòa án. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định miễn án phí đối với bị cáo.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người bào chữa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản ản theo quy định của pháp luật.
Liên quan đến vụ án có đối tượng Trần Xuân H mà theo lời khai nhận tội của bị cáo V thì chính H là người rủ rê và trực tiếp sử dụng súng kíp để săn bắt và giao các cá thể thú cho V sơ chế. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra đối tượng H đã bỏ trốn khỏi địa phương, cho nên Cơ quan điều tra đã nhiều lần tiến hành xác minh, triệu tập để làm rõ sự việc nhưng đều không có kết quả, do đó không có đủ cơ sở để xem xét xử lý trách nhiệm hình sự trong cùng vụ án. Vì vậy, đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bố Trạch tiếp tục xác minh, đấu tranh làm rõ hành vi phạm tội của đối tượng H khi có đủ căn cứ, tránh trường hợp bỏ lọt tội phạm. Đối với ông Cao Xuân B mà theo lời khai ban đầu của bị cáo V là người đã bán súng cho bị cáo V, nhưng quá trình điều tra đã tiến hành lấy lời khai cũng như tiến hành đối chất nhưng không có cơ sở xác định sự việc mua bán súng kíp giữa ông B và bị cáo V nên không có căn để xử lý.
Kiến nghị: Theo kết luận giám định số: 175/GĐ - PC 09 ngày 06/3/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình kết luận: Công cụ bị cáo đã sử dụng để săn bắn là súng tự chế, có tính năng, tác dụng tương tự súng kíp, thuộc danh mục súng săn. Như vậy, hành vi trên đã vi phạm quy định về quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, pháo và đồ chơi nguy hiểm bị cấm theo quy định tại Điều 10, Nghị định số: 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính Phủ quy định về xử phạt hình chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội…Tuy nhiên, quá trình điều tra chưa được xem xét xử lý, cho nên đề nghị Cơ quan Công an xem xét xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo theo đúng quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a, g, h khoản 2 Điều 244, điểm m, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ Luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017); điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự; Điều 7 Nghị quyết số: 05/2018/NQ-HĐTP, ngày 05/11/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 234 về tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã và Điều 244 về tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Cao Xuân V phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Cao Xuân V 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (01/02/2021). Tiếp tục tạm giam các bị cáo Cao Xuân V với thời hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án (24/3/2021) theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án.
3. Xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 khẩu súng kíp không có số hiệu, chiều dài 1,84 m, 56 viên kim loại hình cầu, 09 mảnh giấy hình chử nhật và 01 con dao tông dài 41,2 cm. Các vật chứng hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch, có số lượng, đặc điểm, chủng loại được mô tả theo như biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/9/2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bố Trạch và biên bản giao nhận lại đối tượng giám định của Phòng kỷ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình.
- Tịch thu, tiêu hủy 04 cá thể Vọoc (đã chết) và giao cho Hạt kiểm lâm Vườn Quốc gia Phong nha-Kẻ Bàng tiến hành xử lý theo quy định pháp luật. (Số vật chứng này hiện đang tạm giao cho Hạt Kiểm lâm vườn Quốc Gia Phong Nha- Kẻ Bàng bảo quản có đặc điểm, số lượng và tình trạng theo như biên bản niêm phong đồ vật và tài liệu bị tạm giữ lập ngày 06/02/2020)
4. Án phí hình sự sơ thẩm: Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Cao Xuân V.
5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai, báo cho bị cáo, bị hại, người bào chữa cho bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (24/3/2021) để yêu cầu xét xử phúc thẩm theo quy định pháp luật. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn trên kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh QB; - VKSND tỉnh QB; - Sở Tư pháp tỉnh QB; - Phòng PV 06 CA tỉnh QB; - VKSND huyện Bố Trạch; - CA huyện Bố Trạch; - Chi cục THADS huyện Bố Trạch; - Bị cáo; Bị hại; NBC; NCQLNVLQ; - Lưu: HSVA, VP, THA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Trung Thành |