vanban.org

Bản án 14/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 18/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trang Trường A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trang Trường A 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21-12-2020. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trang Trường A phạm tội "tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trang Trường A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2021/HS-ST
Ngày 18-3-2021

NHÂN DAH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Hoài Tâm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Tèo;

Ông Nguyễn Hồng Phúc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Cao Cường – Thư ký Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đình Lưỡng - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2021/TLST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2021/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:

Trang Trường A, sinh ngày: 28 tháng 8 năm 1989; tại: tỉnh Tây Ninh. Nơi đăng KNKTT: Khu phố 3, thị trấn B, huyện B, tỉnh Tây Ninh. Chỗ ở hiện nay: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; cha vô danh, mẹ Trang Thị H, sinh năm 1966; vợ. con: chưa có; tiền án: 01 tiền án, ngày 25-9-2020 bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Tây Ninh xử phạt số tiền 20.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”. Chấp hành xong hình phạt ngày 26-11-2020, chưa được xóa án tích; tiền sự: không có; nhân thân: ngày 08-6-2006 bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Tây Ninh xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21-12-2020 đến nay, (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 20 giờ 30 phút ngày 21 tháng 12 năm 2020, tại đoạn đường nhựa 786 thuộc ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh, Công an huyện B phối hợp với Công an xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh bắt quả tang Trang Trường A đang cất giấu một bịch nilon trong suốt hàn kín, bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng (nghi là ma túy) được cất giấu trong 01 gói thuốc lá hiệu Jet nên lập biên bản quả tang, tạm giữ người và tang vật để điều tra làm rõ. Qua khám xét khẩn cấp nơi ở của Trang Trường A, Công an còn phát hiện và thu giữ 01 bịch nilon trong suốt, hàn kín 03 đầu, 01 đầu có khóa bóp, bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng.

Qua quá trình điều tra đã kết luận: Trang Trường A là đối tượng nghiện ma túy, ngày 16-12-2020 A đến khu vực vòng xoay G thuộc thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh gặp 01 người đàn ông tên S (không rõ lai lịch) mua ma túy với giá 600.000 đồng cất giấu tại nhà để sử dụng.

Vào khoảng 14 giờ ngày 21-12-2020, khi đang ở nhà tại ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tây Ninh có người phụ nữ tên L (không rõ lai lịch) biết A là người nghiện ma túy và biết chỗ mua nên đã nhờ A mua 01 bịch ma túy với giá 1.900.000 đồng để sử dụng, A đồng ý mua dùm, không nhận tiền công và tiền lời. Sau đó, A điều khiển xe mô tô biển số 70C1-182.54 đến khu vực ấp N, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh gặp 01 người đàn ông tên T (không rõ lai lịch) mua ma túy với giá 1.900.000 đồng. Sau khi mua ma túy xong, A điều khiển xe mô tô về đến khu vực thuộc ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh thì bị Công an kiểm tra và bắt quả tang.

Kết luận giám định số 1996/KL-KTHS ngày 26/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh xác định: Mẫu chất tinh thể rắn bên trong 01 (một) bịch nilon trong suốt hàn kín (ký hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy, là loại Methamphetamine, khối lượng 1,7984 gam; Mẫu chất tinh thể rắn bên trong 01 (một) bịch nilon trong suốt hàn kín ba đầu, một đầu khóa bóp có viền đỏ (ký hiệu M1) gửi đến giám định là chất ma túy, là loại Methamphetamine, khối lượng 1,6621 gam.

Kết luận giám định số 2023/KL-KTHS ngày 07/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: số khung, số máy xe mô tô biển số 70C1-182.54 không bị đục sửa.

Vật chứng cơ quA điều tra thu giữ gồm:

- 02 (hai) gói ma túy ký hiệu M và M1.

- 01 (một) vỏ gói thuốc lá hiệu Jet.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO, mode số IMEL1: 865635046125578.

- 01 (một) xe mô tô biển số 70C1 - 182.54, số máy: HC12E-7181940, số khung: RLHHC1251FY181919.

- 01 (một) con dao.

- 01 (một) bình thủy tinh hình chiếc hồ lô, phần đích bình bao bởi nắp nhựa màu đen, phía trên có gắng ống nhựa màu trắng và môt ống thủy tinh.

- 01 (một) cân điện tử màu đen, có dòng chữ OPEN.

- 01 (một) bật lửa.

- 10 (mười) ống thủy tinh.

- Tại bản cáo trạng số: 08/CT-VKSBC ngày 05 tháng 02 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện B đã truy tố Trang Trường A về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Trang Trường A đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trang Trường A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249, Điều 38 của Bộ luật hình sự; điểm s, Khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trang Trường A từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm tù.

Về hình phạt bổ sung: miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo A.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ Luật hình sự, Điều 106 của Bộ Luật Tố tụng hình sự, đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.

Đối với hai người đàn ông tên S và tên T, người phụ nữ tên L do không rõ nhân thân, lai lịch nên không làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trang Trường A, Công an huyện B, tỉnh Tây Ninh đã xử phạt hành chính.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã ăn năn hối cải đối với hành vi của bị cáo, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm được trở về với mẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trAh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về xác định tội danh: ngày 21-12-2020, bị cáo A đã thực hiện hành vi tàng trữ 1,7984 gam chất ma túy, loại Methamphetamine trong gói thuốc lá hiệu Jet, mục đích là mua dùm một người phụ nữ tên L (không rõ lai lịch) để sử dụng. Ngoài ra, bị cáo A còn tàng trữ tại nhà 1,6621 gam chất ma túy loại Methamphetamine. Hành vi này có đủ căn cứ kết luận bị cáo Trang Trường A phạm tội: “tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Đối với hai người đàn ông tên S, tên T và người phụ nữ tên L không rõ lai lịch, chưa làm việc được nên chưa xử lý.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của TrAg Trường A, Công A huyện B đã xử phạt vi phạm hành chính.

Trang Trường A không có tài sản nên Công an huyện B, tỉnh Tây Ninh không kê biên tài sản.

Hành vi của bị cáo: mang tính chất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần nghiêm trị để có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận. Do đó xét thấy cần áp dụng hình phạt tù giam để cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian, để cải tạo giáo dục cho bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội, biết chấp hành pháp luật.

Khi quyết định hình phạt có xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo A đã phạm tội khi chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có ông ngoại là Liệt sĩ, đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, cần xem xét để giảm nhẹ một phần mức án cho bị cáo.

Nhân thân: ngày 08-6-2006 bị cáo A, bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Tây Ninh xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong. Bị cáo có nhân thân xấu.

Hình phạt bổ sung: miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo A.

Về vật chứng: Hội đồng xét xử xét thấy:

- Đối với: 02 (hai) gói ma túy được ký hiệu M và M1 là chất cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu Jet, 01 (một) con dao, 01 (một) bình thủy tinh hình chiếc hồ lô, 01 (một) cân điện tử màu đen, 01 (một) bật lửa, 10 (mười) ống thủy tinh là vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO, mode số IMEL1: 865635046125578; 01 (một) xe mô tô biển số 70C1 - 182.54, số máy: HC12E-7181940, số khung: RLHHC1251FY181919 là tài sản của bị cáo A nên trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo TrAg Trường A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điều 38, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điểm h Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Trang Trường A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trang Trường A 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21-12-2020.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 02 (một) gói niêm phong ký hiệu M, bên trong chứa 1,6664 gam và gói niêm phong ký hiệu M1, bên trong chứa 1,2368 gam chất ma túy loại Methamphetamine, theo Kết luận giám định số: 1666/KL-KTHS ngày 26-12-2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công A tỉnh Tây Ninh.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói thuốc lá hiệu Jet, 01 (một) con dao, 01 (một) bình thủy tinh hình chiếc hồ lô, 01 (một) cân điện tử màu đen, có dòng chữ OPEN, 01 (một) bật lửa, 10 (mười) ống thủy tinh.

- Trả lại cho bị cáo A: 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO, số IMEL1: 865635046125578; 01 (một) xe mô tô biển số 70C1 - 182.54, số máy: HC12E-7181940, số khung: RLHHC1251FY181919.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08-02-2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Tây Ninh).

3. Về án phí: Căn cứ các Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30-12-2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Bị cáo A phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo đối với bản án: bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ