- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Anh V bị xét xử về tội đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo – Giữ nguyên bản án sơ
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 321 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN _________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2021/HS-PT Ngày:02/3/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyên Tùng;
Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Việt Hùng và bà Đậu Thị Quy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Linh–Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Minh Hồng – Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 02tháng3năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 98/2020/TLPT-HS ngày 30 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo Nguyễn V,do có kháng cáo của các bị cáoNguyễn V, Nguyễn D, Trần Q đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2020/HS-ST ngày 10/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Phú Yên.
- Các Bị cáo có kháng cáo:
1.Nguyễn V, sinh năm 1994; tại huyện H, tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn T, xã S, huyện H, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính:Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn A, sinh năm 1963 và bà Nguyễn B, sinh năm 1966; có vợ Phạm K, sinh năm 1998 và 01 con, sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 06/8/2018 bị Công an huyện H xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000đồng về hành vi đánh bạc trái phép, đã chấp hành xong; bị cáo tại ngoại; có mặt.
2.Nguyễn D, sinh năm 1980; tại thành phố X, tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn T, xã S, huyện H, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa(học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Y, sinh năm 1942 và bà Đinh Z, sinh năm 1946; cóchồngNguyễn L, sinh năm 1968 và 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 06/8/2018 bị Công an huyện H xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000đồng về hành vi đánh bạc trái phép, đã chấp hành xong; bị cáo tại ngoại; có mặt.
3.Trần Q, sinh năm 1962; tại huyện N, tỉnh Phú Yên. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Thôn M, xã E, huyện N, tỉnh Phú Yên; chỗ ở: Thôn T, xã S, huyện H, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần P (chết) và bà Dương F (chết);có vợNguyễn C, sinh năm 1965 và 04 con, con lớn nhất sinh năm 1984, con nhỏ nhất sinh năm 1991; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số: 04/HS-ST ngày 11/01/1992 của Tòa án nhân dân huyện H, phạt Trần Q24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng về tội “Hành hạ, ngược đãi vợcon”; Bản án hình sự phúc thẩm số: 41/HSPT ngày 26/10/1994 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên, phạt Trần Q 06 tháng tù về tội “Hành hạ vợ”; tổng hợp với bản án số: 04/HS-ST, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung 30 tháng tù (đã chấp hành xong); bị cáo tại ngoại; có mặt.
Ngoài ra, vụ án còn có các bị cáo Nguyễn R, Phạm Inhưng không có kháng cáo, không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 08/3/2020tại quán cà phê UởThôn T, xã S, huyện H, tỉnh Phú Yên.Nguyễn Vtrực tiếp làm cái xóc bầu cua sát phạt vớiNguyễn D, Trần Q, Nguyễn R, Phạm I mỗi ván từ 50.000đồng đến 100.000đồng; thì bị phát hiện, lập biên bản, tạm giữ số tiền 15.870.000đồng, trong đó sử dụng vào mục đích đánh bạc là 7.340.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2020/HS-ST ngày 10/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Phú Yên đã tuyên các bị cáoNguyễn V, Nguyễn D, Trần Qphạm tội “Đánh bạc”.Áp dụng Khoản 1Điều 321;Điều 38; Điểm i, s, Khoản 1 Điều 51; 54 Bộ luật Hình sự; phạt: Nguyễn V,Nguyễn D, Trần Qmỗi bị cáo 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt các bị cáo thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm cònphạt các bị cáoNguyễn R, Phạm I mỗi bị cáo 03 tháng tù cho hưởng án treo; tuyên phầnxử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 23/11/2020 các bị cáo Nguyễn V và Nguyễn D đều kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Ngày 24/11/2020 bị cáo Trần Q kháng cáo xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn V, Nguyễn D, Trần Qvẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo – Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Khoảng 11 giờ 30 phút đến 12 giờ 40 phút ngày 08/3/2020,tại quán cà phê Uthuộc Thôn T, xã S, huyện H, tỉnh Phú Yên. Nguyễn Vtrực tiếp làm cái xóc bầu cua sát phạt cùngNguyễn D, Trần Q, Nguyễn R,Phạm I mỗi ván từ 50.000đồng đến 100.000đồng; thì bị Công an huyện Hphát hiện lập biên bản, tạm giữ số tiền 15.870.000đồng, trong đó số tiền trên tay và trong người các bị cáo dùng để đánh bạc là: 7.340.000đồng. Nên cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử cácbị cáo về tội “Đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.
Hành vi tụ tập nhiều người, ở nhiều địa phương khác nhau để tập trung đánh bạc của các bị cáo, không chỉ xâm phạm đến nếp sống văn minh, trật tự công cộng; mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an – an toàn xã hội tại địa phương; bản thân các bị cáo đều có nhân thân xấu, có bị cáo đã nhiều lần bị kết án, hoặc có bị cáo đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, nhưng không tích cực sửa chữa lỗi lầm,nên cần xử lý nghiêm.Khi lượng hình, án sơ thẩm có áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, để xử các bị cáo với mức án dưới mức thấp nhất của hình phạt tù là không nặng; nhưng án sơ thẩm đã không lượng hóa đúng tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của từng bị cáo đã thực hiện, dẫn đến quyết định hình phạtcủa người làm cái và chuẩn bị dụng cụ phục vụ cho việc đánh bạc, ngang bằng với người đánh bạc là thiếu công bằng; đáng lẽ ra cần hủy một phần bản án để xét xử lại đối với bị cáo Nguyễn V; tuy nhiên việc không cho các bị cáo Nguyễn V, Nguyễn D, Trần Q đượchưởng án treo cũng đã đủ tác dụng răn đe, giáo dục và ngăn ngừa tội phạm; do đó không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của các bị cáo; và để ổn định bản án, nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.
Các bị cáokháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo – Giữ nguyên bản án sơ
thẩm;
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn V, Nguyễn D, Trần Qphạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng Khoản 1Điều 321; Điều 38; Điểm i, s, Khoản 1 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự;
Phạt:
- Bị cáo Nguyễn V – 03 (ba) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án;
- Bị cáoNguyễn D – 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án;
- Bị cáo Trần Q– 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Áp dụngĐiều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Các bị cáo Nguyễn V, Nguyễn D, Trần Qmỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng)án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao Đà Nẵng (1); - TAND huyện H(2); - VKSND tỉnh Phú Yên (2); - VKSNF huyện H (1); - Công an huyện H(2); - Sở tư pháp (1); - Người tham gia tố tụng (1); - Lưu án văn (1); lưu hồ sơ (2). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Nguyên Tùng |