- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn H - phạm tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (điều 355 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo H 09 (chín) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2021/HS-PT Ngày : 29-01-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Thường
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình
Bà Nguyễn Thị Hoài Xuân.
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Hồng Vỹ là thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tú Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 01 năm 2021 tại trụ sở TAND tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 131/2020/TLPT-HS ngày 04 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2020/HS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân thị xã H.
Bị cáo có kháng cáo:
H, sinh năm 1974 tại Bình Định; Nơi đăng ký HKTT: Khu phố Đ, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định; chỗ ở hiện nay: Khu phố Thiết Đính Bắc, phường Bồng Sơn, thị xã H, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; con ông Lê Văn K, sinh năm 1936 và bà Tạ Thị C, sinh năm 1942; vợ: Lê Thị Hồng V, sinh năm 1976, con: Có 02 người, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 30/5/2020, H mang nhiều đoạn dây xích và dây cáp đến nhà cha mẹ ruột là ông K bà C ở thôn Đệ Đức 3, xã Hoài Tân (nay là khu phố Đệ Đức 3, phường Hoài Tân) mục đích kéo ngã ngôi nhà ông K bà C đang ở. Khi thấy H đến ông K bà C bỏ đi ra ngoài, lúc này, H cầm dây xích và dây cáp đi vào nhà, nối các đoạn xích và dây cáp lại với nhau, rồi kéo vòng bên trong nhà. Do dây ngắn không đủ để vòng quanh nhà nên H bỏ dây xích, dây cáp trên nhà và đi ra sau nhà thấy cây cuốc có cán tre dài 2m phần lưỡi bằng kim loại. H cầm cây cuốc đập vào khung cửa sắt, chậu cây cảnh ở sân sau. Sau đó, H đi vào phòng bếp rồi lần lượt đi qua các phòng ngủ, phòng khách, phòng thờ dùng cuốc đập nhiều lần làm bể, vỡ nhiều tài sản: máy lọc nước, nồi cơm điện, máy giặt, tủ lạnh, tủ chén, máy quạt, tủ quần áo, bàn thờ, kính... Khi đang đập các tài sản tại phòng thờ thì cây cuốc bị gãy cán tre nên H vứt bỏ cuốc ở ngoài sân. Sau đó, H đi ra giếng tháo máy bơm nước bỏ xuống giếng; đi qua hông nhà dùng tay nhổ các cây mai, cây hoa giấy, cây nho đang trồng trong chậu bỏ ra khỏi chậu. Khi H vừa nhổ cây cảnh xong thì ông C thấy nên rượt đuổi H, H bỏ chạy và đi về.
Ngày 10/6/2020, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã H, tỉnh Bình Định kết luận: Các tài sản của ông K bà C mà H đã đập phá có tổng giá trị 26.620.000 đồng.
Bản án hình sự sơ thẩm số 65/2020/HS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân thị xã H đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo H phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
* Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điều 106, 135, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án;
Tuyên bố: Bị cáo H phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Xử phạt bị cáo H 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.
Ngày 30 tháng 9 năm 2020, bị cáo H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó HĐXX có đủ căn cứ để xác định vụ án như sau:
Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 30/5/2020, H đã sử dụng dây xích và dây cáp nối lại với nhau để vòng quanh nhà cha mẹ ruột của bị cáo là ông Lê Văn K bà Tạ Thị C nhằm mục đích dùng xe container kéo sập nhà của ông K và bà C. Vì dây không đủ độ dài nên H sử dụng cây cuốc của ông K để phía sau nhà để đập phá, làm bể vỡ, hư hỏng các tài sản có trong nhà như: Máy lọc nước, nồi cơm điện, máy giặt, tủ lạnh, tủ chén, máy quạt, tủ quần áo, bàn thờ, kính...Sau đó, H còn tháo máy bơm vứt xuống giếng, nhổ bỏ các cây cảnh ra khỏi chậu. Các tài sản của ông K và bà C mà H đã đập phá làm hư hỏng được định giá có tổng giá trị là 26.620.000 đồng.
Do đó, bản án hình sự sơ thẩm số 65/2020/HS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân thị xã H đã xét xử bị cáo H về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo H, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện tính xem thường pháp luật, xâm phạm đến tài sản của cha mẹ là người đã sinh thành và nuôi dưỡng bị cáo, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét toàn diện hành vi, áp dụng đầy đủ các tình tiết và xử phạt bị cáo 09 tháng tù, tại cấp phúc thẩm mặc dù bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS nên Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt 09 tháng tù đối với bị cáo là phù hợp, tương xứng với hành vi bị cáo gây ra. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Theo điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 thì bị cáo H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo H. Giữ nguyên phần hình phạt bản án sơ thẩm.
2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT1-TANDTC - VKSND tỉnh Bình Định; - CQHSNVCSCA tỉnh Bình Định; - TA, VKS, CQĐT CA Tx.H; - Cơ quan THAHS Tx.H; - Chi cục THADS Tx.H; - Sở tư pháp tỉnh Bình Định. - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Thường |