vanban.org

Bản án 14/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Tô Thị H đƣợc ly hôn anh Bùi Văn V.

Về con chung: Xử: Giao con chung Bùi Quang A, sinh ngày 21/6/2012 cho anh Bùi Văn V trực tiếp nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi; Giao con chung Bùi Hữu P, sinh ngày 26/6/2018 cho chị Tô Thị H trực tiếp nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị H và anh V không phải cấp dƣỡng nuôi con chung … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tô Thị H - Bùi Văn V"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Tô Thị H đƣợc ly hôn anh Bùi Văn V.
  • Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CHÍ LINH
TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 09 - 4 - 2021
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Kim Giang;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Thành

2. Bà Trần Thị Kim Chuyên

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số: 390/2020/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 12 năm 2020 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 11/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 23/3/2021 giữa các đƣơng sự:

1. Nguyên đơn: Chị Tô Thị H, sinh năm 1989;

Nơi ĐKHKTT: Khu dân cƣ C, phƣờng C, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng;

Nơi ở hiện nay: Khu dân cƣ K, phƣờng V, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng.

2. Bị đơn: Anh Bùi Văn V, sinh năm 1985;

Địa chỉ: Khu dân cƣ C, phƣờng C, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng.

- Ngƣời làm chứng:

+ Bà Trần Thị T, sinh năm 1962;

Địa chỉ: Khu dân cƣ K, phƣờng V, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng.

+ Ông Bùi Văn T, sinh năm 1957;

Địa chỉ: Khu dân cƣ C, phƣờng C, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng.

Chị H, anh V, ông T có mặt; bà T vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 25/11/2020, bản tự khai và ý kiến tại các buổi làm việc với Tòa án, chị Tô Thị H trình bày: Chị và anh V đăng ký kết hôn ngày 16/9/2011 tại Ủy ban nhân dân phƣờng C, thị xã C (nay thành phố C) trên cơ sở tự nguyện và đƣợc hai bên gia đình tổ chức lễ cƣới theo phong tục tập quán địa phƣơng. Sau ngày cƣới, vợ chồng chung sống tại nhà bố mẹ đẻ anh V tại khu dân cƣ C, phƣờng C. Thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thƣờng. Sau khi chị sinh con thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do tính cách không hợp, thƣờng hay bất đồng quan điểm và thỉnh thoảng có xảy ra xô xát. Sau khi chị sinh con thứ 3 thì vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng. Anh V có lời lẽ xúc phạm, coi thƣờng và đánh chị. Đến tháng 11/2020, do không chịu đựng đƣợc nữa nên chị đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở khu dân cƣ K, phƣờng V. Anh V và gia đình anh V cũng không quan tâm và bảo chị về. Vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Chị xác định vợ chồng không còn tình cảm và không thể đoàn tụ đƣợc, do vậy, chị giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết cho chị đƣợc ly hôn anh V. Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Bùi Quang A, sinh ngày 21/6/2012, Bùi Quang L, sinh ngày 03/3/2014 và Bùi Hữu P, sinh ngày 26/6/2018. Cháu L đã mất vào ngày 16/6/2014 nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hiện tại, cháu A đang ở với chị, cháu P đang ở với anh V. Khi ly hôn chị cũng mong muốn đƣợc nuôi dƣỡng cả 02 con, nhƣng do điều kiện hiện tại đang làm công nhân may, lƣơng bình quân hàng tháng là 6.000.000đ, chị chỉ có khả năng chăm sóc tốt cho 01 con. Cháu P còn nhỏ và yếu nên chị đề nghị Tòa án giao cháu P cho chị đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng và giao cháu A cho anh V trực tiếp nuôi dƣỡng. Chị và anh V không phải cấp dƣỡng nuôi con chung với nhau. Về quan hệ tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại bản tự khai ngày 13/01/2021 và ý kiến tại các buổi làm việc, bị đơn - anh Bùi Văn V trình bày thống nhất nội dung về thời gian, điều kiện kết hôn nhƣ lời khai của chị H. Anh V thừa nhận thời gian gần đây vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, do chị H không chia sẻ công việc với anh, lại hay cãi lời anh nói. Anh không làm chủ đƣợc bản thân nên có tát chị H một cái. Tháng 11/2020, chị H đã bỏ về nhà mẹ đẻ và không quay về nhà anh nữa. Do bận công việc nên anh chƣa đến nói chuyện với chị H đƣợc. Nay chị H xin ly hôn, anh xác định mâu thuẫn vợ chồng anh chỉ là mâu thuẫn nhỏ, anh thƣơng các con còn nhỏ và không ảnh hƣởng đến các con nên anh không đồng ý ly hôn. Về con chung: Anh V xác định vợ chồng có 03 con chung nhƣ chị H trình bày. Cháu L đã mất vào ngày 16/6/2014 nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cháu A hiện tại đang do chị H nuôi dƣỡng. Cháu P đang do anh nuôi dƣỡng. Bản thân anh cũng muốn nuôi cả 02 con, nhƣng chị H muốn nuôi cháu P và giao cháu A cho anh nuôi dƣỡng, anh cũng nhất trí theo nguyện vọng của chị H. Vợ chồng không phải cấp dƣỡng nuôi con với nhau. Về quan hệ tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại bản tự khai ngày 12/03/2021, cháu Bùi Quang A trình bày có nguyện vọng xin đƣợc ở với mẹ.

- Tại Biên bản ghi lời khai ngày 12/3/2021, bà Trần Thị T là mẹ chị Tô Thị H trình bày xác định: Vợ chồng chị H và anh V mâu thuẫn từ cách đây vài năm do anh V hay đánh chửi chị H. Gia đình hai bên đã khuyên bảo nhƣng anh V không thay đổi. Khoảng tháng 10/2020, anh V tiếp tục đánh, chửi chị H, do vậy, bà đã đƣa chị H về nhà bà ở khu dân cƣ K, phƣờng V ở. Từ đó đến nay, anh V và gia đình anh V cũng không sang bảo chị H quay về. Vợ chồng sống ly thân và không quan tâm đến nhau. Nay chị H xin ly hôn, quan điểm của bà là tùy chị H quyết định. Về con chung: Theo bà nên giao cho chị H và anh V mỗi ngƣời nuôi 01 con chung sẽ hợp lý hơn. Do cháu P còn nhỏ và yếu nên theo bà nên giao cháu P cho chị H chăm sóc, nuôi dƣỡng.

- Tại biên bản xác minh với trƣởng khu dân cƣ C, phƣờng C xác định: Cuối năm 2020, chị H và anh V không chung sống cùng nhau. Chị H bỏ về nhà mẹ đẻ ở K, V sống. Mâu thuẫn cụ thể của vợ chồng, địa phƣơng không nắm đƣợc. Nay chị H xin ly hôn, quan điểm của của địa phƣơng là đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Về con chung: hiện tại, vợ chồng có 02 con chung. Nếu ly hôn, việc nuôi con thế nào đề nghị Tòa án xem xét nguyện vọng của vợ chồng và các con để giải quyết theo quy định pháp luật. Hiện tại, anh V làm nghề điện nƣớc và lái xe taxi. Đủ khả năng về kinh tế để nuôi dƣỡng con.

Tại phiên toà:

Chị H giữ nguyên quan điểm nhƣ trình bày nêu trên.

Anh V thay đổi ý kiến, xác định chị H cứ cƣơng quyết xin ly hôn thì anh cũng chấp nhận. Anh V cũng đề nghị đƣợc nuôi dƣỡng cả 02 con chung và không yêu cầu chị H phải cấp dƣỡng nuôi con chung với anh.

Ông Bùi Văn T - Bố đẻ anh V xác định: Quá trình chung sống vợ chồng chị H, anh V có mâu thuẫn, nhƣng chị H không nói gì với ông. Ông hỏi chị H cũng chỉ yên lặng và không nói gì. Sau đó, chị H tự bỏ về nhà mẹ đẻ. Phía gia đình chị H sau đó cũng cứ tác động để vợ chồng bỏ nhau. Nay, chị H cƣơng quyết đòi ly hôn anh V, quan điểm của ông là đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định pháp luật. Về con chung: Quan điểm của ông đề nghị Tòa án xem xét điều kiện của các bên để giao con cho phù hợp. Nếu anh V đƣợc nuôi con, ông và gia đình sẽ tạo mọi điều kiện để hỗ trợ anh V chăm sóc tốt cho con.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ thời điểm thụ lý vụ án đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng. Về đƣờng lối giải quyết đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Tô Thị H đƣợc ly hôn anh Bùi Văn V. Về con chung: Xử: Giao con chung Bùi Quang A, sinh ngày 21/6/2012 cho anh Bùi Văn V trực tiếp nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi; Giao con chung Bùi Hữu P, sinh ngày 26/6/2018 cho chị Tô Thị H trực tiếp nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị H và anh V không phải cấp dƣỡng nuôi con chung với nhau. Về quan hệ tài sản chung: Không đặt ra việc xem xét, giải quyết. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến của đƣơng sự và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Anh Bùi Văn V đăng ký hộ khẩu thƣờng trú tại khu dân cƣ C, phƣờng C, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng. Chị Tô Thị H khởi kiện xin ly hôn anh Bùi Văn V và giải quyết về việc nuôi con chung. Do vậy, đây là vụ án về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh thụ lý giải quyết vụ án là đúng với thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Tô Thị H và anh Bùi Văn V kết hôn với nhau ngày 16/9/2011 trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo các điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phƣờng C. Do vậy, hôn nhân của chị H, anh V là hợp pháp. Sau khi kết hôn một thời gian, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính cách không hợp, thƣờng hay bất đồng, dẫn đến vợ chồng thƣờng hay xảy ra cãi vã, xô xát. Từ tháng 11/2020 chị H đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở khu dân cƣ K, phƣờng V ở. Vợ chồng sống ly thân và không quan tâm đến nhau. Mặc dù, anh V có quan điểm không muốn ly hôn vì con còn nhỏ, nhƣng bản thân anh V cũng không có biện pháp và hành động thể hiện mong muốn vợ chồng về đoàn tụ. Hội đồng xét xử thấy r ng việc chị H, anh V không thƣơng yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc gia đình, cũng không sống chung với nhau, đã vi phạm nghiêm trọng quyền, ngh a vụ của vợ chồng quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc. Do vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của chị H xin ly hôn anh V.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là Bùi Quang A, sinh ngày 21/6/2012, Bùi Quang L, sinh ngày 03/3/2014 và Bùi Hữu P, sinh ngày 26/6/2018. Cháu L đã mất vào ngày 16/6/2014 nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Anh V có quan điểm xin đƣợc nuôi dƣỡng cả 02 con chung; chị H đề nghị đƣợc nuôi cháu P và giao cho anh V nuôi cháu Quang A. Mặc dù, cháu P mong muốn ở với mẹ, nhƣng xét điều kiện hoàn cảnh của chị H không đủ khả năng để nuôi dƣỡng tốt cho cả 02 con. Hơn nữa, cháu Quang A chƣa đủ 36 tháng tuổi, ở với mẹ sẽ đảm bảo cho việc nuôi dƣỡng cháu hơn. Vì vậy, căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận ý kiến của chị H giao con chung Bùi Hữu P cho chị H trực tiếp nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi; Giao con chung Bùi Quang A cho anh V trực tiếp nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị H, anh V không phải cấp dƣỡng nuôi con chung với nhau. Chị H, anh V có quyền, ngh a vụ thăm nom con chung mà không ai đƣợc cản trở chị H thực hiện quyền này.

Về quan hệ tài sản: Chị H, anh V không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra việc xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị H là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Tô Thị H đƣợc ly hôn anh Bùi Văn V.

2. Về con chung: Xử:

Giao con chung Bùi Quang A, sinh ngày 21/6/2012 cho anh Bùi Văn V trực tiếp nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi; Giao con chung Bùi Hữu P, sinh ngày 26/6/2018 cho chị Tô Thị H trực tiếp nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị H và anh V không phải cấp dƣỡng nuôi con chung với nhau.

Chị H, anh V có quyền, ngh a vụ thăm nom con chung mà không ai đƣợc cản trở chị H, anh V thực hiện quyền này.

3. Về án phí: Chị Tô Thị H phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, đƣợc đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ mà chị H đã nộp theo biên lai thu số: AA/2017/0006744 ngày 09/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng. Chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trƣờng hợp quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án, ngƣời phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ