vanban.org

Bản án 14/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH
——————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2021/HNGĐ-ST.
Ngày 31-3-2021
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thư.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Minh Lý;

Bà Dương Thị Mỹ Liên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Hảnh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thướng - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 592/2020/TLST- HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2020 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2021; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị Yến N, sinh năm 1999; có mặt.

Cư trú tại: Ấp L, xã G, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Anh Trương Nguyễn K, sinh năm 1996; vắng mặt.

Cư trú tại: Khu phố H, phường A, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Đặng Thị Yến N trình bày:

Chị và anh K tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2018, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A. Sau khi cưới, vợ chồng chị về chung sống cùng gia đình anh K tại khu phố H, phường A. Vợ chồng cùng làm công nhân, kinh tế độc lập với gia đình. Cuộc sống vợ chồng bắt đầu xảy ra mâu thuẫn từ cuối năm 2019, nguyên nhân là do anh K lười biếng, không phụ giúp chị lo lắng kinh tế gia đình nên vợ chồng thường xuyên gây gỗ nhau. Ngoài ra, giữa gia đình chị và mẹ của anh K cũng có nhiều mâu thuẫn. Vợ chồng chị đã tự ly thân từ tháng 7-2020 đến nay. Khi ly thân, chị về nhà mẹ ruột sống đến nay, vợ chồng không còn liên lạc, không còn quan tâm đến nhau, tình cảm vợ chồng đã phai nhạt, không còn hạnh phúc. Nay chị yêu cầu được ly hôn anh K.

Về con chung: Vợ chồng chị có 01 người con chung là cháu Trương Đặng Khánh Q, sinh ngày 30-6-2020, hiện đang sống cùng với chị. Cháu Q rất khỏe mạnh, phát triển bình thường, không bị bệnh tật, dị tật bẩm sinh. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Q, không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Vợ chồng chị không nợ ai, không yêu cầu giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã niêm yết, tống đạt thông báo thụ lý vụ án và triệu tập anh Trương Nguyễn K đến Toà lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, tham gia phiên toà nhưng anh K vắng mặt nên không thể hiện được lời trình bày và yêu cầu của anh K.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh:

- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Riêng bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định của pháp luật.

- Về quan điểm giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình xem xét quyết định:

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đặng Thị Yến N đối với anh Trương Nguyễn K. Chị N được ly hôn anh K.

Về con chung: Giao chị N được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung tên Trương Đặng Khánh Q, sinh ngày 30-6-2020. Ghi nhận chị N không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị N và anh K không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Chị N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét thấy:

Về tố tụng:

Anh Trương Nguyễn K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.

Về quan hệ hôn nhân:

Chị N và anh K chung sống với nhau vào năm 2018, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, thị xã Trảng Bàng. Do đó, hôn nhân của anh, chị là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ, chồng đã phát sinh mâu thuẫn từ cuối năm 2019, nguyên nhân mâu thuẫn theo chị N trình bày là do giữa vợ, chồng chị có mâu thuẫn về kinh tế chi tiêu trong gia đình nên thường xuyên gây gỗ nhau. Ngoài ra, giữa chị N và mẹ chồng cũng có nhiều mâu thuẫn, không thể chung sống hòa hợp với nhau. Vợ chồng chị N, anh K đã tự ly thân từ tháng 7-2020 đến nay, tình cảm vợ chồng đã phai nhạt, không thể hàn gắn được. Nay chị N yêu cầu được ly hôn anh K.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã niêm yết, tống đạt, triệu tập hợp lệ anh K nhiều lần nhưng anh K đều vắng mặt, cho thấy anh K không có thiện chí hàn gắn cùng chị N. Mặt khác, tại phiên tòa, chị N xác định không còn lòng tin về tình cảm đối với anh K, tình cảm vợ chồng đã phai nhạt, không thể hàn gắn được và giữ nguyên yêu cầu được ly hôn anh K, cho thấy đời sống hôn nhân của anh, chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, khả năng đoàn tụ giữa chị N và anh K đã không còn. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N đối với anh K, cho chị N được ly hôn anh K là có cơ sở, đúng quy định của pháp luật.

Về con chung:

Cháu Trương Đặng Khánh Q, sinh ngày 30-6-2020 hiện đang theo sống cùng chị N. Khi ly hôn, chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Q. Xét thấy, từ khi chị N và anh K ly thân, chị N là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q, cháu phát triển rất tốt về thể chất lẫn tinh thần. Bên cạnh đó, cháu Q là nữ, hiện tại vẫn còn nhỏ (dưới 36 tháng), cần được sự chăm sóc, giáo dục của người mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử giao cháu Q cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Ghi nhận chị N không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị N và anh K không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

Như phân tích trên thì đề nghị của Viện kiểm sát về quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở chấp nhận.

Án phí:

Chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đặng Thị Yến N đối với anh Trương Nguyễn K.

Chị Đặng Thị Yến N được ly hôn anh Trương Nguyễn K.

2. Về con chung:

Giao chị Đặng Thị Yến N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trương Đặng Khánh Q, sinh ngày 30-6-2020.

Ghi nhận chị N không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.

Anh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị N và anh K không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

4. Án phí:

Chị Đặng Thị Yến N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0014743 ngày 26 tháng 10 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Chị N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Chị N có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh K có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Cỡ chữ