- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "V/v ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu Hà.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN TỈNH PHÚ THỌ __________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14 /2021/ HNGĐ-ST Ngày 28/04/2021 “V/v ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Nguyễn Thị Tâm
2/ Ông Nguyễn Gia Thắng
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đào Thị Anh Nhinh - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn.
Đại diện VKS nhân dân huyện Thanh Sơn tham gia phiên tòa: Ông Đinh Trọng Nho - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 04 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 321/2021/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 03 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2021/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 04 năm 2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu Hà, sinh năm 1996.
Địa chỉ: Khu Ngọc Sơn 2, xã Sơn Hùng, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn: Anh Tô Ngọc Thương, sinh năm 1994
Địa chỉ: Số nhà 77, khu Thống Nhất, TT Thanh Sơn, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
( Chị Hà có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Thương vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình làm việc tại Tòa án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu Hà trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Năm 2015 chị xây dựng gia đình với anh Tô Ngọc Thương, được tự nguyê ̣n tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Thanh Sơn, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ . Sau kết hôn vợ chồng ra ở riêng, vợ chồng chung sống hòa thuận được khoảng 01 tuần thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh Thương hay uống rượu chửi bới đánh đập chị, đến cuối năm 2017 chị và anh Thương đã sống ly thân, chị về nhà bố mẹ đẻ chị ở, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị và anh Thương sẩy ra đã được gia đình hai bên hòa giải nhiều lần nhưng anh Thương không thay đổi, vợ chồng không hàn gắn được tình cảm, cuộc sống chung vợ chồng giữa chị và anh Thương đã không còn tồn tại từ năm 2017, hai bên đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Hiện tại chị và anh Thương không ai còn liên lạc quan tâm đến nhau. Nay chị nhận thấy hôn nhân không có hạnh phúc, tình cảm vợ chồng giữa chị và anh Thương không còn chị xin được ly hôn với anh Thương.
Về con chung: Chị Hà xác nhận giữa chị và anh Thương không có con chung với nhau.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị Hà xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Phía bị đơn, anh Tô Ngọc Thương đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa án để làm việc, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã xác minh tại địa phương về việc đăng ký hộ khẩu thường trú, tình trạng hôn nhân giữa chị Hà và anh Thương, lấy lời khai của mẹ đẻ anh Thương. Theo kết quả xác minh ngày 25/01/2021 tại Công an thị trấn Thanh Sơn xác định anh Tô Ngọc Thương có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thị trấn Thanh Sơn, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ và hiện có mặt tại địa phương. Tại biên bản làm việc ngày 25/01/2021 bà Nguyễn Thị Loan ( mẹ đẻ anh Thương) cho biết: Anh Tô Ngọc Thương và chị Nguyễn Thị Thu Hà tự nguyện tìm hiểu, được gia đình tổ chức xây dựng gia đình năm 2015 và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Thanh Sơn. Sau kết hôn chị Hà và anh Thương ra ở riêng(ở cùng khu) vợ chồng chung sống hòa thuận đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, mâu thuẫn cụ thể như thế nào bà cũng không nắm được. Đến tháng 02/2019 chị Hà đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ chị ở vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay không còn quan tâm đến nhau. Hiện nay chị Hà đang làm thủ tục ly hôn anh Thương tại Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn gia đình bà có nhận được một số văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, như thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập làm việc và các thông báo về phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Khi nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án giao bà có thông báo cho anh Thương biết, nhưng hiện nay anh Thương làm nghề lái xe taxi nên không thường xuyên có mặt tại nhà, còn việc anh Thương có đến Tòa án làm việc hay không bà không nắm được.
Quan điểm của bà đề nghị Tòa án không đến nhà bà tống đạt các văn bản tố tụng của tòa án vì bà không nhận thay do không liên quan đến vụ án và bà cũng đề nghị Tòa án giải quyết cho anh, chị theo quy định của pháp luật vì thực tế anh, chị đã sống ly thân từ năm 2017.
Quan điểm của của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành quy định của Pháp luật về việc đến Tòa án làm việc.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu Hà, xử cho chị Nguyễn Thị Thu Hà được ly hôn với anh Tô Ngọc Thương;Về con chung: Không có, không xem xét giải quyết; Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Không xem xét giải quyết; Về án phí: Chị Hà phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Ngày 04/12/2020 chị Nguyễn Thị Thu Hà nộp đơn khởi kiện về việc ly hôn với anh Tô Ngọc Thương do đó đây là quan hệ tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do bị đơn có nơi cư trú tại huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ nên Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a, khoản 1 điều 35; điểm a, khoản 1 điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu Hà có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 26/4/2021. Bị đơn anh Tô Ngọc Thương được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên đây là vụ án không thể tiến hành hòa giải được phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự. Ngày 28/3/2021 Tòa án đưa vụ án ra xét xử và niêm yết tại nơi cư trú của anh Thương nhưng anh Thương vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa. Sau khi hoãn phiên tòa, đã niêm yết hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa tại nơi cư trú của anh Thương. Tại phiên tòa hôm nay chị Hà có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Thương vắng mặt không có lý do. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị Hà và anh Thương là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Năm 2015 chị Nguyễn Thị Thu Hà và anh Tô Ngọc Thương xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở hai bên hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Thanh Sơn, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Sau khi kết hôn vợ chồng ở riêng tại khu Thống Nhất, thị trấn Thanh Sơn, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh Thương hay uống rượu chửi bới đánh đập chị Hà, không tu chí làm ăn. Đến cuối năm 2017 chị Hà và anh Thương đã chính thức sống ly thân, cuộc sống chung giữa chị Hà và anh Thương không còn tồn tại, chị Hà về nhà bố mẹ đẻ để ở, mỗi người một nơi không ai còn quan tâm gì đến nhau. Căn cứ vào lời khai của mẹ đẻ anh Thương là bà Nguyễn Thị Loan và qua kết quả xác minh tình trạng hôn nhân tại khu hành chính nơi anh chị cư trú thấy phù hợp với lời trình bày của chị Hà. Hội đồng xét xử thấy rằng có đủ căn cứ khẳng định chị Hà và anh Thương đã không còn chung sống với nhau một thời gian dài, giữa hai vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm đến nhau, mâu thuẫn cũng đã được hai bên gia đình, chính quyền địa phương khuyên giải nhưng không có kết quả, bản thân anh Thương đã từng phải đi cải tạo tại Trại giam sau kết hôn và bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Do vậy tình trạng hôn nhân giữa chị Hà và anh Thương đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Trong quá trình giải quyết vụ án anh Thương cố tình trốn tránh không đến Tòa án làm việc và hòa giải, không trình bày quan điểm gì có thể thấy anh Thương không có mong muốn đoàn tụ, không có nguyện vọng để giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng. Việc chị Hà xin ly hôn với anh Thương là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận là phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Xét thấy chị Nguyễn Thị Thu Hà xác định không có, anh Tô Ngọc Thương vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên cần chấp nhận.
Về án phí: Chị Hà phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 4 Điều 147, Điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu Hà. Xử cho chị Nguyễn Thị Thu Hà được ly hôn với anh Tô Ngọc Thương.
2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu Hà phải chịu 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị Hà đã nộp 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2020/0003369 ngày 15/12/2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn.
3. Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết tại Trụ sở UBND xã nơi các đương sự cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh, huyện; - THADS huyện; - Các đương sự; - UBND TT Thanh Sơn - Lưu: HS- VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Đã ký Nguyễn Cẩm Vân |