vanban.org

Bản án 14/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị D được ly hôn anh Nguyễn Văn N.

Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị D trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Văn Bảo S, sinh ngày 04/8/2017 và chấp nhận việc chị D không yêu cầu anh N phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con. Việc thay đổi người nuôi con và mức cấp dưỡng được đặt ra khi một trong các bên có đơn yêu cầu. Người không trực … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị D - Anh N"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị D được ly hôn anh Nguyễn Văn N.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HƯNG
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2021/HNGĐ-ST
Ngày 16/3/2021
V/v: “Tranh chấp hôn nhân gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thành.

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đoàn Ngọc Sử.

2. Bà Nguyễn Thị Vĩnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế – Thư ký Tòa án.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tham gia phiên toà:

Bà Lại Thị Giang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2021/TLST-HNGĐ, ngày 07 tháng 01 năm 2021, về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2021/QĐXX-ST ngày 09 tháng 02 năm 2020, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1998

* Bị đơn:

Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1991

Đều có địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đông Hưng, Thái Bình.

(Chị D có đơn xin xét xử vắng mặt, anh N vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại đơn khởi kiện ngày 05/01/2021 và tại bản tự khai ngày 07/01/2021chị Nguyễn Thị D nguyên đơn trình bày:

* Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn N ngày 10/9/2016 do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận được khoảng 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung nên nhiều lần xảy ra cãi vã, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn chị xin được ly hôn với anh Nguyễn Văn N.

* Về con chung: Chị và anh N có 01 con chung là Nguyễn Văn Bảo S, sinh ngày 04/8/2017. Ly hôn chị có nguyện vọng nuôi con và không yêu cầu anh N phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con.

* Về tài sản và nợ: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Đối với bị đơn anh Nguyễn Văn N: Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng anh N không có mặt để tham gia tố tụng tại Tòa án.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 26/01/2021 đối với bà Phạm Thị L, sinh năm 1964 (là mẹ đẻ anh Nguyễn Văn N) - Trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, trình bày như sau: Anh N đã biết việc chị D xin ly hôn và nhận được thông báo thụ lý vụ án và thông báo về phiên họp việc kiểm tra, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Anh N kết hôn với chị D ngày 10/9/2016 do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Đông Hưng. Trong cuộc sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, chị D đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ tháng 10/2017. Nay anh N đi làm ăn xa thông qua điện thoại anh N đồng ý ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Văn Bảo S, sinh ngày 04/8/2017, ly hôn anh có nguyện vọng nuôi con.

Về tài sản: Anh N không đề nghị Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm tại phiên tòa:

- Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn đều tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đối với bị đơn là anh N, tuy đã nhận được thông báo của Tòa án về việc chị D xin ly hôn nhưng anh vẫn vắng mặt không trực tiếp đến Tòa án làm việc nên việc chấp hành pháp luật của bị đơn là chưa nghiêm chỉnh.

- Về nội dung vụ án đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX căn cứ vào quy định của pháp luật xử cho chị Nguyễn Thị D được ly hôn với anh Nguyễn Văn N; Về con chung chị D và anh N có 01 con chung là Nguyễn Văn Bảo S, sinh ngày 04/8/2017. Ly hôn chị D, anh N có nguyện vọng nuôi con, tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án anh N không có mặt nên việc giao con cho anh N là không đảm bảo quyền lợi cho con chung. Vì vậy cần giao con Nguyễn Văn Bảo S cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng và chấp nhận việc chị D không yêu cấu anh N phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản: Chị D không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết; Chị Nguyễn Thị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi xem xét toàn bộ các tài liệu chứng cứ và ý kiến của các đương sự tại các lời khai và tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đều có hộ khẩu thường trú tại huyện Đông Hưng, quá trình giải quyết vụ án các đương sự không yêu cầu giải quyết về tài sản mà chỉ giải quyết về quan hệ hôn nhân và con chung, vì vậy căn cứ vào các Điều 28; 35; 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân huyện Đông Hưng giải quyết là đúng thẩm quyền. Anh N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, tuy nhiên tại phiên tòa ngày 25/02/2021 anh N vắng mặt nên căn cứ vào khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX đã hoãn phiên tòa lần thứ nhất. Tại phiên tòa ngày 16/3/2021, anh N tiếp tục vắng mặt, chị D có đơn xin xét xử vắng mặt nên HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh N, chị D.

Về quan hệ hôn nhân:

Chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Văn N kết hôn ngày 10/9/2016 do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hòa thuận được khoảng 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung nên nhiều lần xảy ra cãi vã, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn chị xin được ly hôn với anh Nguyễn Văn N. Tại biên bản xác minh ngày 26/01/2021 chính quyền địa phương xác định giữa chị D, anh N có phát sinh mâu thuẫn nhưng mâu thuẫn cụ thể thì địa phương không nắm rõ nên đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

HĐXX thấy rằng: Chị D, anh N đã sống ly thân từ khoảng cuối năm 2017 đến nay, không quan tâm đến nhau, không có mối ràng buộc về kinh tế nên xác định tình cảm vợ chồng giữa chị D, anh N không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, tình trạng hôn nhân đã trầm trọng. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của chị D, xử cho chị D được ly hôn với anh N là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị D, anh N có 01 con chung là Nguyễn Văn Bảo S, sinh ngày 04/8/2017. Ly hôn chị D có nguyện vọng nuôi con và không yêu cầu anh N đóng góp cấp dưỡng nuôi con cần được chấp nhận. Anh N cũng có nguyện vọng nuôi con tuy nhiên hiện anh N đi làm xa nên việc giao con chung cho anh N là không đảm bảo quyền lợi cho con chung theo quy định của pháp luật. Vì vậy cần giao con Nguyễn Văn Bảo S cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục và chấp nhận việc chị D không yêu cấu anh N phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp đảm bảo quyền lợi cho con chung.

Về tài sản: Chị Nguyễn Thị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 và 116 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị D được ly hôn anh Nguyễn Văn N.

2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị D trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Văn Bảo S, sinh ngày 04/8/2017 và chấp nhận việc chị D không yêu cầu anh N phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con.

Việc thay đổi người nuôi con và mức cấp dưỡng được đặt ra khi một trong các bên có đơn yêu cầu. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản: Chị Nguyễn Thị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, chuyển số tiền 300.000 đồng chị D đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002623 ngày 07/01/2021 thành tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị D có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn N có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ