vanban.org

Bản án 14/2021/DSPT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Quảng Trị Tuyên án 22/04/2021 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 22/04/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đ n Bà Ngô Th L về việc yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Ông Ngô D và bà Phan Th T phải trả lại cho nguyên đ n phần đất Ông Ngô D đã lấn chiếm là 30m2.

Về án phí: Bà Ngô Th L phải ch u án phí dân sự s thẩm số tiền 300.000đồng và án phí dân sự phúc thẩm số tiền 300.000đồng, nh ng đ ợc trừ vào số tiền 300.000đồng đã nộp tạm ứng án phí dân sự s thẩm theo biên lai thu tiền số AA/2016/0000693 ngày 26/02/2020 và Biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm Bản án 01/2021/DS-ST Tuyên án 07/01/2021
Phúc thẩm — đang xem Bản án 14/2021/DSPT Tuyên án 22/04/2021

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "ngô thị l - ngô d"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đ n Bà Ngô Th L về việc yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Ông Ngô D và bà Phan Th T phải trả lại cho nguyên đ n phần đất Ông Ngô D đã lấn chiếm là 30m2.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2021/DS-PT
Ngày: 22/4/2021
“V/v tranh chấp quyền sử dụng
đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

à Nguy n Th Hà;

Các Thẩm phán:

Ông Đinh Viết Nam;

Bà Nguy n Th Thu Hà.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Nhật Ánh - Th ký Tòa án nhân dân tỉnh

Quảng Tr .

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Th Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2021, tại Hội tr ờng xét xử - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Tr xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 02/2021/TLPT-DS ngày 22 tháng 02 năm 2021 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” do bản án dân sự s thẩm số 01/2021/DS-ST ngày 07 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân th xã Q, tỉnh Quảng Tr b kháng cáo và kháng ngh . Theo Quyết đ nh đ a vụ án ra xét xử số 04/2021/QĐXXPT-DS ngày 18 tháng 3 năm 2021, giữa các đ ng sự:

Nguyên đ n: Bà Ngô Th L, đ a chỉ: Đội A, thôn B, xã C, th xã Q, tỉnh Quảng Tr ; vắng mặt.

Ng ời đại diện hợp pháp của nguyên đ n: Ông Ngô T, sinh năm 1968, đ a chỉ: Số 19, tổ 7, khu phố 3, ph ờng An Bình, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai – Là ng ời đại diện theo ủy quyền( Văn bản ủy quyền ngày 25/02/2020); có mặt.

B đ n: Ông Ngô D, sinh năm 1969 và bà Phan Th T, sinh năm 1972, đ a chỉ: Đội A, thôn B, xã C, th xã Q, tỉnh Quảng Tr ; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Mảnh đất tại thửa đất số 411, tờ bản đồ số 17 tại Đội A, thôn B, xã C, th xã Q của Bà Ngô Th L có nguồn gốc là của bố mẹ chồng bà L khai hoang. Tr ớc năm 1975 thì ông Ngô M( anh chồng Bà Ngô Th L) sử dụng. Sau năm 1975 Bà Ngô Th L trở về quê h ng, ở trên mảnh đất đó và khai hoang phục hóa. Tr ớc khi đ ợc nhà n ớc công nhận quyền sử dụng đất thì Bà Ngô Th L có đăng ký vào sổ đ a chính tại UBND xã H còn đăng ký vào năm nào thì bà L không nhớ rõ, sau đó bà đ ợc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích h n 3 sào(tức h n 1700m2). Năm 2006 thì đ ợc UBND huyện Lcấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 1749m2. Việc cấp, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do các c quan chức năng tự làm, không có ký hộ liền kề.

Tháng 8/2019, bà L làm t ờng rào ngăn cách giữa đất của bà L và đất nhà Ông Ngô D, khi chuẩn b làm hàng rào bà L có báo cho gia đình Ông Ngô D( là hộ liền kề) nh ng ông D không ra nên bà L phải tự thi công t ờng rào, bà L và các con của bà L bàn bạc nên xây thụt vào để khỏi trở ngại về phần đất của mình và khỏi lấn chiếm bên cạnh. Bà L xây t ờng rào dựa trên c sở lấy mốc giới ở phía d ới lên vì ở đó ranh giới rõ ràng, vì ch a rõ ranh giới giữa v ờn hai hộ nên bà L báo cho gia đình ông D, ông D không ra, bà L xây t ờng rào theo hàng cây hàng năm làm hàng rào tạm( tr ớc khi xây thì có hàng rào là những cây tre, hóp, trứng gà, mít). Bà L phá bỏ hàng rào cây cũ để xây t ờng rào mới thì xảy ra tranh chấp, ông D cho rằng bà L lấn chiếm đất và phá t ờng rào mới xây nên bà L nhờ đ a chính xã đo đạc lại, kết quả đo đạc theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phần đất của bà L thiếu 30m2. Vì vậy, bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Ông Ngô D và bà Phan Th T phải trả lại phần đất Ông Ngô D đã lấn chiếm cho bà L theo đúng ranh giới của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà đ a chính đã đo đạc.

* Bị đơn trình bày:

Diện tích đất mà Ông Ngô D và bà Phan Th T sử dụng ở Đội A, thôn B, xã C, Th xã Q, tại thửa đất số 458 tờ bản đồ số 17 có nguồn gốc là đất h ng hỏa của bố mẹ Ông Ngô D( ông Ngô Q và bà Phan Th C) để lại, đ ợc nhà n ớc công nhận hợp pháp. Từ năm 1975- 1985 do bà Phan Th C( mẹ Ông Ngô D) và ông Ngô T( anh trai Ông Ngô D) sử dụng và đăng ký vào sổ đăng ký ruộng đất tại UBND xã H. Từ năm 1986, ông D bà T sử dụng cho đến nay và đ ợc UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2006 với diện tích 978m2, mảnh đất phía Tây giáp đất nhà ông Nguy n N, phía Bắc giáp v ờn bà Phan Th H, phía Nam giáp kênh thủy lợi, phía Đông giáp v ờn Bà Ngô Th L. Bốn phía giáp hộ liền kề đều có hàng rào tre, hóp làm ranh giới phân cách. Hiện tại phía Nam ranh giới b xóa bỏ để làm đ ờng bê tông, phía Đông Bà Ngô Th L tự xóa bỏ ranh giới là hàng rào tre, hóp cũ để xây t ờng rào bằng blo.

Từ năm 1975- 2019, ông D bà T sử dụng đất ổn đ nh, không tranh chấp theo ranh giới là hàng rào cây cối ngăn cách giữa hộ ông và hộ Bà Ngô Th L. Tháng 8/2019 khi ông D bà T phát hiện hàng cây làm ranh giới giữa đất v ờn nhà ông D bà T và nhà bà L b xóa bỏ, thay vào đó là bức t ờng rào làm bằng bê tông dài 30m. Việc bà L xây t ờng rào không có sự thống nhất giữa ông D bà T và bà L.Bà L không thông báo cho ông D bà T biết để xác đ nh ranh giới, khi xây t ờng rào bà L tự ý đào phá hàng rào cũ bằng tre, hóp. Ông D bà T có trình báo sự việc với công an xã H; UBND xã H đã hòa giải, hộ Bà Ngô Th L và ông D bà T đã thống nhất giữ nguyên t ờng rào bê tông do Bà Ngô Th L xây dựng làm ranh giới giữa đất hai hộ.

Tr ớc đây, ông D bà T sử dụng đất theo đúng ranh giới là hàng rào cây cối giữa hai hộ. Từ sau khi bà L xây t ờng rào bê tông thì ông D bà T sử dụng đất theo đúng ranh giới là t ờng rào bà L xây. Ông D bà T không làm thay đổi ranh giới giữa hai hộ. Bà L khởi kiện ông D bà T lấn chiếm đất của bà L là hoàn toàn vô lý. Hồ s cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ Bà Ngô Th L là sai vì không có chữ ký xác nhận của hộ liền kề là b đ n, trong khi ông D bà T không có mặt thì bà L dẫn cán bộ đo chồng lên đất của ông D bà T. Diện tích đất của ông D bà T có tăng thêm so với tr ớc đây là do ông D bà T khai hoang thêm, thể hiện ở trích lục 299 phần khai hoang mở rộng thêm ở phần tiếp giáp đất ông Nguy n Nhân. Ông D bà T không lấn chiếm đất của bà L. Ông D bà T không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đ n.

Bản án sơ thẩm số 01/2021/DS-ST ngày 07 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã Q, tỉnh Quảng Trị quyết định: Căn cứ vào Điều 163, Điều 164 của Bộ luật dân sự và Điều 203 của Luật Đất Đai; Điều 26, Điều 39 và Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự, xử: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đ n Bà Ngô Th L về việc yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Ông Ngô D và bà Phan Th T phải trả lại cho nguyên đ n phần đất Ông Ngô D đã lấn chiếm là 30m2.

Ngoài ra bản án s thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đ ng sự.

Ngày 11/01/2021, người đại diện theo ủy quyền của bà L là Ông Ngô T có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2021/DS-ST ngày 07/01/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Q với những nội dung:

Tòa án không căn cứ vào diện tích đất và s đồ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 471641 do UBND huyện L cấp ngày 20/11/2006 cho Bà Ngô Th L; không căn cứ vào vào kết quả đo đac bằng máy AIK đã xác đ nh ranh giới thửa đất số 411 và thửa đất số 458, tờ bản đồ số 17; không căn cứ vào kết quả đo đạc của an đ a chính xã H; không căn cứ vào Biên bản xem xét, thẩm đ nh tại chỗ đã đo đạc lại ngày 11/6/2020 là không đúng. Vì vậy, đề ngh Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết lại vụ án để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đ n.

Ngày 22/01/2021, Viện kiểm sát nhân dân th xã Q, tỉnh Quảng Tr có Quyết đ nh số 01/QĐKNPT-VKS-TXQT kháng ngh phúc thẩm đối với bản án số 01/2021/DS-ST ngày 07/01/2021 của Tòa án nhân dân th xã Q với lý do: Tòa án nhân dân th xã Q đã căn cứ vào biên bản hòa giải ngày 05/9/2020 đề thụ lý vụ án “ Tranh chấp quyền sử dụng đất” là không đúng quy đ nh tại điểm b khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề ngh Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án s thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật tố tụng của Tòa án và quan điểm giải quyết vụ án như sau:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Th ký, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm đã chấp hành đúng các quy đ nh của ộ luật Tố tụng dân sự; các đ ng sự đã thực hiện đúng các quyền và ngh a vụ, tham gia phiên tòa theo các quy đ nh của ộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề ngh Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 192, điểm g khoản 1 Điều 217, Điều 311 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xử: Hủy bản án s thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Sau khi xét xử s thẩm, bà L làm đ n kháng cáo và Viện kiểm sát nhân dân th xã Q kháng ngh bản án s thẩm. Xét thấy, đ n kháng cáo của nguyên đ n phù hợp với các Điều 271, 272 và 273 và nội dung Kháng ngh của Viện kiểm sát nhân dân th xã Q, tỉnh Quảng Tr phù hợp với các Điều 278, Điều 279 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự về chủ thể và thời hạn kháng cáo, kháng ngh nên Hội đồng xét xử phúc thẩm xét kháng cáo, kháng ngh theo quy đ nh của pháp luật.

[2] Xét kháng nghị số 01/QĐKNPT-VKS-TXQT ngày 22/01/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Q cho rằng, việc Tòa án thụ lý vụ án là chưa đủ điều kiện khởi kiện theo quy định tại Điều 203 của Luật Đất đai 2013, Hội đồng xét xử thấy: Bà Ngô Th L và Ông Ngô D bà Phan Th T đ ợc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 2006, sử dụng ổn đ nh cho đến tháng 8/2019, khi bà L phá bỏ hàng rào tạm là cây cối để xây dựng hàng rào bằng blô thì hai bên xảy ra tranh chấp. Ngày 05/9/2019, UBND xã H đã tiến hành hòa giải theo đ n kiến ngh của bà L. Hai bên hòa giải thành và đi đến thống nhất là giữ nguyên hiện trạng t ờng rào bà L đã xây làm ranh giới cố đ nh giữa hai gia đình. Tuy nhiên, ngày 08/01/2020 bà L nhờ đ a chính xã đo đạc lại diện tích đất thì thấy diện tích đất của mình đang còn thiếu nên đã làm đ n kiến ngh lần hai đến UBND xã H. Ngày 08/01/2020, UBND xã H tiến hành lập biên bản về việc giải quyết tranh chấp đất đai nh ng cả hai đều không đi đến thống nhất nên UBND xã H lập biên bản. Tại biên bản về việc giải quyết tranh chấp đất đai ngày 08/01/2020 do đại diện của UBND xã H do ông Nguy n Quốc B- Cán bộ đ a chính, Tr ởng thôn A lập với hai bên gia đình ông D, bà L và h ớng dẫn nếu tr ờng hợp hai bên không thống nhất theo biên bản hòa giải thành ngày 05/9/2019 của UBND xã H thì bà L kiến ngh cấp có thẩm quyền khác giải quyết. Biên bản ngày 08/01/2020 theo quy đ nh của Luật đất đai và Ngh đ nh 43 của Chính phủ thì có vi phạm về mặt hình thức nh ng nội dung đã h ớng dẫn cho các đ ng sự kiến ngh cấp có thẩm quyền khác giải quyết. Ngoài biên bản hòa giải ngày 05/9/2019 có thêm biên bản ngày 08/01/2020 của UBND xã H đã giải quyết tranh chấp đất đai giữa hai gia đình Bà Ngô Th L và Ông Ngô D. Theo quy đ nh tại khoản 4 Điều 88 của Ngh đ nh 43 quy đ nh: “ ...Trường hợp hòa giải không thành hoặc sau khi hòa giải thành mà có ít nhất một trong các bên thay đổi ý kiến về kết quả hòa giải thì Ủy ban nhân dân cấp xã lập biên bản hòa giải không thành và hướng dẫn các bên tranh chấp gửi đơn đến có quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp tiếp theo” . Nh vậy, việc hòa giải đã đ ợc UBND xã H hòa giải theo quy đ nh tại Điều 202 và Điều 203 Luật đất đai năm 2013 và khoản 4 Điều 88 Ngh đinh số 43 của Chính phủ. Khi thấy quyền và lợi ích của mình b xâm phạm bà L đã làm đ n khởi kiện và Tòa án th xã Q đã tiến hành thụ lý, giải quyết vụ án là có căn cứ. Vì vậy, Kháng ngh của Viện kiểm sát nhân dân th xã Q cho rằng việc Tòa án th xã Q thụ lý giải quyết vụ án khi ch a đủ điều kiện khởi kiện là không có c sở.

Xét kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy: Đất hộ Bà Ngô Th L và hộ Ông Ngô D sử dụng đ ợc công nhận đều có nguồn gốc cha ông để lại. Diện tích đất của hai hộ qua sổ Đăng ký ruộng đất, trích lục 299; giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng nh thực trạng sử dụng đều có sự biến động. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì diện tích đất của bà L đ ợc cấp là 1749m2 và của Ông Ngô D và bà Phan Th T là 978m2. Tuy nhiên, hiện trạng sử dụng đất của hai hộ đều thiếu, cụ thể diện tích đất của bà L đang sử dụng là 1622m2 và của ông D bà T là 942m2. Bà L và ông D bà T đều thừa nhận khi cấp, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2006 đều không có ký hộ liền kề, đất đ ợc cấp theo dự án, diện tích đất của hai hộ không phải là đất chuyển nh ợng mà có nguồn gốc từ của ông bà để lại nên phải tôn trọng ranh giới thực tế mà hai hộ đã sử dụng từ tr ớc đến nay. Khi cấp đất không có hồ s cấp đất, không có s đồ thửa đất, không có tọa độ, không căn cứ vào việc đo vẽ bằng máy AIK để xác đ nh ranh giới nh bà L kháng cáo mà Nhà n ớc công nhận quyền sử dụng đất theo ranh giới qua các thời kỳ đã sử dụng của hai hộ. Theo Thông t 29/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên & Môi tr ờng về việc h ớng dẫn lập, chỉnh lý, quản lý hồ s đ a chính, tại điểm b mục 3.6 quy đ nh “trường hợp thửa đất xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1,2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai hoặc có một trong các loại giấy tờ đó nhưng không ghi rõ tình trạng ranh giới chung của thửa đất với các thửa đất liền kề thì khi đo vẽ bản đồ địa chính, đơn vị đo đạc dựa vào tình hình sử dụng đất cụ thể, ý kiến của những người sử dụng đất liền kề để xác định ranh giới thửa đất,lập bản mô tả về ranh giới thửa đất...” . Vì vậy, việc bà L yêu cầu Tòa án buộc ông D bà T trả lại diện tích đất 30m2 là không có căn cứ. Mặt khác, bà L và ông D bà T sử dụng hàng rào bằng cây cối làm ranh giới đất giữa hai hộ, mỗi bên sử dụng đất theo ranh giới là hàng rào cây cối. Tháng 8/2019, bà L tự ý phá bỏ hàng rào cây làm ranh giới đất giữa hai hộ để xây t ờng rào mới bằng blo. Bà L tự mình xác đ nh ranh giới giữa hai hộ để xây t ờng rào mới và sử dụng đất của bà theo hàng rào xây( Bút lục 24, 25, 25a là hình ảnh bà L tự chặt bỏ cây cối hàng rào tạm để xây dựng hàng rào mới) Tr ớc đây, hộ ông D và hộ bà L sử dụng đất ổn đ nh, không tranh chấp theo ranh giới là hàng rão cũ là cây cối, tre hóp. Từ khi Lài phá bỏ hàng rào cũ để xây dựng hàng rào mới thì ông D cũng nh bà L sử dụng đất theo ranh giới là hàng rào xây. Theo Điều 3 Ngh đ nh số 91/2019/ NĐ-CP ngày 19/11/2019 quy đ nh: “ Lấn đất là việc người sử dụng đất chuyển dịch mốc giới hoặc ranh giới thửa đất để mở rộng diện tích đất sử dụng mà không được cơ quan quản lý nhà nước về đất đai cho phép hoặc không được người sử dụng hợp pháp diện tích đất bị lấn đó cho phép”. Tuy nhiên, ông D bà T không có hành vi làm d ch chuyển, thay đổi ranh giới, lấn chiếm trái phép đất đai. H n nữa, tại Biên bản hòa giải ngày 05/9/2019 thì bà L và ông D đã thỏa thuận lấy hàng rào bà L đã xây dựng làm ranh giới của hai hộ nh ng sau đó bà L không thực hiện Biên bản này. Vì vậy, nguyên đ n khởi kiện yêu cầu ông D bà T trả lại 30m2 đất là không có cở sở.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy không chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Tr và không chấp nhận kháng cáo của nguyên đ n; Giữ nguyên bản án s thẩm.

Về án phí:

Bà Ngô Th L phải ch u án phí dân sự phúc thẩm vì kháng cáo không đ ợc chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS: Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đ n Bà Ngô Th L và kháng ngh của Viện kiểm sát nhân dân th xã Q, tỉnh Quảng Tr ; giữ nguyên bản án s thẩm.

2. Căn cứ vào Điều 163, Điều 164 của Bộ luật dân sự và Điều 202, Điều 203 của Luật Đất Đai; Điều 26, Điều 39 và khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 148 của Bộ Luật Tố tụng dân sự, xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đ n Bà Ngô Th L về việc yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Ông Ngô D và bà Phan Th T phải trả lại cho nguyên đ n phần đất Ông Ngô D đã lấn chiếm là 30m2.

3. Về án phí:

Căn cứ khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 148, của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 26; điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 27 Ngh quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban th ờng vụ Quốc hội quy đ nh án phí, lệ phí.

Bà Ngô Th L phải ch u án phí dân sự s thẩm số tiền 300.000đồng và án phí dân sự phúc thẩm số tiền 300.000đồng, nh ng đ ợc trừ vào số tiền 300.000đồng đã nộp tạm ứng án phí dân sự s thẩm theo biên lai thu tiền số AA/2016/0000693 ngày 26/02/2020 và Biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm số AA/2018/0001524 ngày 19/01/2021 của Chi cục thi hành án dân sự th xã Q, tỉnh Quảng Tr . Bà Ngô Th L đã nộp đủ án phí dân sự s thẩm và án phí dân sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ