- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "BAN AN LY HÔN GIUA CHI T VA ANH C"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Hoàng T
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 14/2020/HNGĐ - ST Ngày: 29/07/2020 “V/v: Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƢƠNG – TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông DƢƠNG VĂN VŨ Các Hội thẩm nhân dân: 01/ Ông ĐINH HỮU LUYNH
02/ Bà HOÀNG THỊ XOAN
- Thư ký phiên tòa: Bà NGUYỄN THỊ NGA – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương tham gia phiên tòa: Bà PHAN THỊ LÀNH – Kiểm sát viên. Ngày 29/07/2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương – tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 97/2020/TLST – HNGĐ ngày 15/05/2020 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình: “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2020/QĐXX – HNGĐ ngày 13/07/2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phạm Hoàng T, sinh năm 1993; Địa chỉ: Số nhà 245– LB – LX – Đ – Lâm Đồng.
2. Bị đơn: Anh Đặng Hữu C, sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn LN – K – Đ – Lâm Đồng.
(Chị Phạm Hoàng T có mặt, anh Đặng Hữu C vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện đề ngày 04/05/2020, bản tự khai ngày 15/05/2020 và lời khai tại phiên tòa – nguyên đơn chị Phạm Hoàng T trình bày: Chị Phạm Hoàng T và anh Đặng Hữu C tìm hiểu và kết hôn với nhau vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã K – Đ và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 114 Quyển số 01/2013 ngày 23/12/2013, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện.
Sau khi kết hôn đôi bên chung sống với nhau tại thôn LN, K, Đ, Lâm Đồng. Trong quá trình chung sống giữa đôi bên thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do đôi bên bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp được với nhau, bản thân anh C vi phạm pháp luật về hình sự về tội giết người hiện đang chấp hành án tại Trại giam Đ – B – Lâm Đồng với mức án là 14 năm tù dẫn đến đôi bên phải sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay, từ đó mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Nay tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nữa chị Phạm Hoàng T yêu cầu được ly hôn với anh Đặng Hữu C.
Anh Đặng Hữu C vắng mặt, nhưng tại Biên bản lấy lời khai ngày 04/06/2020, anh C trình bày:
Anh C xác nhận việc chị Phạm Hoàng T trình bày là đúng về thời điểm kết hôn, quá trình chung sống và nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn vợ chồng. Anh C vi phạm pháp luật về hình sự về tội giết người hiện đang chấp hành án tại Trại giam Trại giam Đ – B – Lâm Đồng với mức án là 14 năm tù. Nay tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nữa anh Đặng Hữu C đồng ý ly hôn với chị Phạm Hoàng T.
- Về con chung: Chị Phạm Hoàng T và anh Đặng Hữu C đều thống nhất xác nhận trong quá trình chung sống giữa đôi bên có 01 con chung là cháu Đặng Ngọc B, sinh ngày 26/05/2014, hiện nay cháu đang sống chung với chị T. Nguyện vọng của chị Phạm Hoàng T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Đặng Hữu C cấp dưỡng nuôi con. Anh C cũng đồng ý giao con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng và anh C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Phạm Hoàng T và anh Đặng Hữu C đều thống nhất xác nhận trong quá trình chung sống giữa đôi bên không có tài sản chung và nợ chung nên không đề cập đến.
Vụ án không thể tiến hành hòa giải được vì anh Đặng Hữu C xin vắng mặt. Đồng thời, vào ngày 11/06/2020 chị Phạm Hoàng T có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải.
Tại phiên toà hôm nay, nguyên đơn chị Phạm Hoàng T vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh Đặng Hữu C.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dƣơng:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử từ khi thụ lý cho đến thời điểm xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng thì nguyên đơn thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Hoàng T, cho chị Phạm Hoàng T và anh Đặng Hữu C được ly hôn với nhau; Về con chung: giao con chung Đặng Ngọc B, sinh ngày 26/05/2014 cho chị Phạm Hoàng T được trực tiếp nuôi dưỡng, tài sản chung và nợ chung không có nên không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa của nguyên đơn, quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương về nội dung vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
Về áp dụng pháp luật tố tụng: Đây là vụ án “Xin ly hôn” giữa nguyên đơn chị Phạm Hoàng T và bị đơn anh Đặng Hữu C. Anh Đặng Hữu C có nơi cư trú tại: Thôn Lạc Nghĩa – Ka Đơn – Đơn Dương – Lâm Đồng, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Khoản 3 Điều 36; Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Việc bị đơn anh Đặng Hữu C vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, vì vậy theo quy định tại các Điều 227, 228, 273 của Bộ Luật tố tụng Dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án và giành quyền kháng cáo vắng mặt cho anh Đặng Hữu C là đủ.
Về áp dụng pháp luật nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Hoàng T và anh Đặng Hữu C tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn với nhau vào năm 2013, tại Uỷ ban nhân dân xã K – Đ và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 114 Quyển số 01/2013 ngày 23/12/2013. Trong quá trình chung sống giữa đôi bên thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp được với nhau, bản thân anh C vi phạm pháp luật về hình sự về tội giết người hiện đang chấp hành án tại Trại giam Đ – B – Lâm Đồng với mức án là 14 năm tù dẫn đến đôi bên phải sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay, từ đó mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Nay tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nữa chị Phạm Hoàng T yêu cầu được ly hôn với anh Đặng Hữu C.
Phía anh Đặng Hữu C vắng mặt nhưng trong quá trình Tòa án tiến hành thụ lý giải quyết vụ án, tại Biên bản lấy lời khai ngày 04/06/2020 (bút lục số 20) thì anh Đặng Hữu C cũng xác nhận quá trình chung sống giữa anh và chị Phạm Hoàng T cũng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn dẫn đến tình cảm vợ chồng rạn nứt. Hiện nay đang phải chấp hành án phạt tù về tội giết người, thời hạn tù 14 năm tính từ năm 2018 nên anh C đồng ý ly hôn với chị T.
Tại phiên tòa hôm nay chị Phạm Hoàng T vẫn cương quyết xin được ly hôn với anh Đặng Hữu C. Chứng tỏ mâu thuẫn giữa đôi bên đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nếu có níu kéo để hai bên về chung sống lại cũng không hạnh phúc. Nên cho hai bên được ly hôn là phù hợp với thực tế và phù hợp với điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về con chung: Tại phiên tòa hôm nay, chị Phạm Hoàng T vẫn giữ nguyên yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Đặng Ngọc B, sinh ngày 26/05/2014, không yêu cầu anh Đặng Hữu C cấp dưỡng nuôi con. Đồng thời, anh Ccũng đồng ý giao con chung cho chị T được trực tiếp nuôi dưỡng, anh C không cấp dưỡng nuôi con.
Để ổn định cuộc sống của cháu, đảm bảo cho cháu phát triển về mặt tâm sinh lý cũng như phù hợp với nguyện vọng của cháu, Hội đồng xét xử nhận thấy cần giao con chung Đặng Ngọc B cho chị Phạm Hoàng T được trực tiếp nuôi dưỡng, anh Đặng Hữu C không phải cấp dưỡng nuôi con chung là hoàn toàn phù hợp với các Điều 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về tài sản chung và nợ chung: Tại phiên tòa hôm nay chị Phạm Hoàng T vẫn giữ nguyên ý kiến xác nhận trong quá trình chung sống giữa đôi bên không có tài sản chung và nợ chung nên không đề cập đến.
Về án phí: Chị Phạm Hoàng T phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình theo quy định của pháp luật. Anh Đặng Hữu C không phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng Khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Khoản 3 Điều 36; Khoản 1 Điều 39; Các Điều 219, 220, 227, 228, 235, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Hoàng T
Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Hoàng T và anh Đặng Hữu C.
Về con chung: Giao con chung Đặng Ngọc B, sinh ngày 26/05/2014 cho chị Phạm Hoàng T được trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Đặng Hữu C không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục con, quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
Về án phí: Buộc chị Phạm Hoàng T phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, căn cứ vào Biên lai thu tiền số 0016282 ngày 15/05/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đơn Dương, chị Phạm Hoàng T đã nộp đủ. Anh Đặng Hữu C không phải chịu tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ để yêu cầu tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để xét xử phúc thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2014”.
| Nơi nhận: - TAT; - VKS; - THA; - Các ĐS; - Lưu HS, AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN– CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dƣơng Văn Vũ |