vanban.org

Bản án 14/2020/KDTM-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần ĐA.

Buộc ông Tạ Xuân H phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần ĐA 26.365.346 đồng (Trong đó: Tiền vốn: 10.600.000 đồng, tiền lãi trong hạn: 1.500.000đồng, tiền lãi quá hạn: 14.265.346 đồng). Ông Tạ Xuân H còn phải tiếp tục trả lãi theo lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng mà hai bên đã ký kết kể từ n… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Ngan hang DA - Ta Xuan H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần ĐA.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 471 Bộ luật Dân sự; Điều 474 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ Q
TỈNH B Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2020/KDTM - ST
Ngày: 24-4-2020
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Q, TỈNH B Đ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Văn Thảo Linh Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Cao Thị Chính

Bà Hoàng Thị Thành

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thư - Là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh B Đ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q, tỉnh B Đ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Cảnh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Q xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 75/2019/TLST-KDTM ngày19 tháng 12 năm 2019 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: Số: 26/2020/QĐXX-ST ngày 09 tháng 3 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần ĐA (Có mặt).

Địa chỉ: Số 130 Phan Đăng Lưu, phường 3, Q. PN, TP. H.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Võ Minh T – Chủ tịch HĐQT.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lương Nguyễn Thanh N – Phó Phòng Quản lý tín dụng ngân hàng TMCP ĐA, Chi nhánh B Đ).

(Theo Quyết định ủy quyền số: 218 ngày 10/12/2019).

- Bị đơn: Ông Tạ Xuân H, sinh năm 1974 (Vắng mặt).

Địa chỉ: Tổ 51, KV7, P. LH P, Tp. Q, tỉnh BĐ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 08.11.2019 và trong quá trình tố tụng, ông Lương Nguyễn Thanh N đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Thương mại cổ phần ĐA trình bày:

Ngày 04/11/2013, ông Tạ Xuân H có vay vốn tại Ngân hàng TMCP ĐA số tiền 30.000.000đồng; thời hạn vay 12 tháng; lãi xuất vay 12% /năm (tính trên dư nợ ban đầu); mục đích vay là để kinh doanh, phát triển kinh tế hộ gia đình; tài sản đảm bảo: tín chấp; phương thức trả nợ: trả vốn và lãi hàng tháng, mỗi tháng trả 2.800.000 đồng. Tổng cộng, ông H phải trả cho ngân hàng TMCP ĐA 33.600.000đồng. Từ ngày 04/11/2013 đến ngày 20/06/2018, ông H đã trả được 24.500.000 đồng (Trong đó: tiền gốc là 19.400.000đồng, tiền lãi trong hạn 2.100.000 đồng, lãi phạt trả chậm 3.000.000đ). Hiện nay, khoản vay vốn trên của ông H đã quá thời hạn thanh toán, ngân hàng nhiều lần thông báo nhưng ông H không chịu trả. Nay ngân hàng TMCP ĐA yêu cầu ông H phải trả toàn bộ số tiền vốn gốc và lãi vay, tạm tính đến ngày 24/4/2020 là 26.365.346 đồng (Trong đó: Tiền vốn: 10.600.000 đồng, tiền lãi trong hạn: 1.500.000đồng, tiền lãi quá hạn: 14.265.346 đồng) và tiền lãi vay phát sinh từ ngày 25/04/2020 đến ngày ông H trả hết nợ tính theo mức lãi suất quá hạn thỏa thuận tại hợp đồng vay.

* Bị đơn Ông Tạ Xuân H: Đã được Toà tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ nhiều lần đến Toà để khai báo, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hoà giải và tham gia phiên Toà xét xử nhưng ông H đều vắng mặt không có lý do.

+ Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật về tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

- Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm xét xử sơ thẩm. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng Dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Riêng bị đơn không chấp hành việc có mặt theo triệu tập của Tòa.

+ Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX áp dụng điều 471, 474, 476, 478 của Bộ luật Dân sự 2005 tuyên xử:

- Buộc ông Tạ Xuân H phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần ĐA là 26.365.346 đồng (Trong đó: Tiền vốn: 10.600.000 đồng, tiền lãi trong hạn: 1.500.000đồng, tiền lãi quá hạn: 14.265.346 đồng)

- Ông Tạ Xuân H còn phải tiếp tục trả lãi theo lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng mà hai bên đã ký kết kể từ ngày 25/4/2020 trở đi trên số dư nợ gốc cho đến khi thi hành xong.

- Án phí: Anh H phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên

tòa Hội đồng xét xử xét thấy:

- Về tố tụng: ÔngTạ Xuân H là bị đơn trong vụ án đã được Tòa triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông H.

Về nội dung: Ngày 04/11/2013 Ngân hàng TMCP ĐA chi nhánh B Đ có cho ông Tạ Xuân H vay 30.000.000đồng; thời hạn vay 12 tháng; lãi xuất vay 12% /năm (tính trên dư nợ ban đầu); mục đích vay là để kinh doanh, phát triển kinh tế hộ gia đình; tài sản đảm bảo: tín chấp; phương thức trả nợ: trả vốn và lãi hàng tháng, mỗi tháng trả 2.800.000 đồng. Tổng cộng, ông H phải trả 33.600.000 đồng. Quá trình thực hiện hợp đồng từ ngày 04/11/2013 đến ngày 20/06/2018, ông H trả được 24.500.000 đồng đồng (Trong đó: tiền vốn: 19.400.000đồng, tiền lãi trong hạn 2.100.000 đồng, lãi phạt trả chậm 3.000.000đ). Tính đến ngày 24/4/2020 ông H còn nợ Ngân hàng số tiền 26.365.346 đồng (Trong đó: Tiền vốn: 10.600.000 đồng, tiền lãi trong hạn: 1.500.000đồng, tiền lãi quá hạn: 14.265.346 đồng). Hiện nay, khoản vay vốn trên của ông H đã quá thời hạn thanh toán, ngân hàng nhiều lần thông báo nhưng ông H không chịu trả. Như vậy, ông H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ như đã thỏa thuận tại hợp đồng vay tiền ngày 04/11/2013. Do đó, HĐXX căn cứ vào các điều 471, 474, 476, 478 của Bộ luật Dân sự 2005; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Tạ Xuân H phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần ĐA 26.365.346 đồng.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 , ông Tạ Xuân H phải chịu 3.000.000đồng sung vào ngân sách nhà nước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Q, tỉnh BĐ phát biểu quan điểm giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 471, 474 ,476, 478 của Bộ luật Dân sự 2005.

Căn cứ Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010:

Tuyên xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần ĐA.

2. Buộc ông Tạ Xuân H phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần ĐA 26.365.346 đồng (Trong đó: Tiền vốn: 10.600.000 đồng, tiền lãi trong hạn: 1.500.000đồng, tiền lãi quá hạn: 14.265.346 đồng).

- Ông Tạ Xuân H còn phải tiếp tục trả lãi theo lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng mà hai bên đã ký kết kể từ ngày 25/4/2020 trở đi trên số dư nợ gốc cho đến khi thi hành xong.

3.Về án phí KDTM sơ thẩm: Ông Tạ Xuân H phải nộp 3.000.000đồng sung vào ngân sách nhà nước.

- Hoàn trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần ĐA 3.000.000đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002415 ngày 18.12.2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Q.

4. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Tạ Xuân H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niên yết tại UBND nơi cư trú.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án dân sự, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ