- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Q - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Xử phạt bị cáo Phạm Văn Q 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/12/2019.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2020/HSST Ngày: 05/02/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N - TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Bình.
Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Tú
Ông Phạm Ngọc Lợi.
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Việt Cường - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 02 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N - tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 11/2020/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2020. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2020/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn Q, (tên gọi khác: Không); giới tính: Nam; sinh năm 1992, tại Ninh Bình; Trú tại: số nhà 529, đường P, phố T, phường N, thành phố N, tỉnh Ninh Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 06/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị V; Gia đình có 3 chị em, bị cáo là con thứ ba; Vợ, con: Chưa có;
Tiền án: Tại bản án số 66/2018/HSST ngày 20/6/2018, Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt Phạm Văn Q 22 triệu đồng về tội “Đánh bạc” (Q chưa nộp phạt):
Tiền sự: Chưa có.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/12/2019 đến ngày 19/12/2019 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình, (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 13/12/2019, Q đang ngồi uống rượu ở khu vực phường N, thành phố N thì Duy ( một người bạn mới quen của Q) có điện thoại cho Q rủ đi mua ma túy về cùng nhau sử dụng. Q đồng ý và hẹn Duy đón Q ở cổng trường cấp 2 N, phường N, thành phố N. Duy điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Attila màu trắng (không rõ biển kiểm soát) đến đón Q. Tại đây Duy và Q góp được 300.000 đồng (trong đó Duy góp 250.000 đồng, Q góp 50.000 đồng). Sau đó Duy điều khiển xe chở Q sang khu vực đầu cầu Non Nước thuộc thôn D, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định, Duy đứng ngoài đường Quốc lộ 10 chờ còn Q đi vào trong ngõ nhỏ gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 túi nilong nhỏ kích thước (1x1,5) cm mép túi có đường kẻ màu xanh, bên trong có chất tinh thể màu trắng với giá 300.000 đồng. Mua được ma túy, Q bỏ vào túi áo khoác bên hông trái đang mặc rồi bảo Duy điều khiển xe về thành phố N để tìm nơi sử dụng. Khoảng 21 giờ cùng ngày, khi đi đến khu vực đường P, phố 4, phường Đ, thành phố N, Q xuống xe đi vệ sinh thì bị Tổ công tác Công an phường N phối hợp với công an phường Đ yêu cầu kiểm tra hành chính. Thấy vậy Duy điều khiển xe mô tô bỏ chạy còn Q tự giác móc trong túi áo khoác bên hông trái đang mặc gói ma túy vừa mua được ra giao nộp cho Tổ công tác và khai nhận gói ma túy đó là của Q mua về để sử dụng. Tổ công tác đã niêm phong vật chứng theo đúng quy định của pháp luật và đưa Q cùng vật chứng về trụ sở Công an phường Đ, thành phố N lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang.
Cân xác định khối lượng chất tinh thể màu trắng trong túi nilon thu giữ của Phạm Văn Q có khối lượng là 0,32 gam ký hiệu M gửi giám định xác định loại ma túy, khối lượng chất ma túy.
Tại bản Kết luận giám định số 06/KLGĐ-PC09-MT ngày 17/12/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể mầu trắng gửi giám định kí hiệu M có khối lượng 0,3201 gam là ma túy loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy thuộc bảng Danh mục II, số thứ tự 323; Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/ 05/2018 của Chính phủ. Cơ quan giám định hoàn lại đối tượng giám định gồm: Chất dạng tinh thể mầu trắng còn lại trong mẫu giám định ký hiệu M có khối lượng 0,2005 gam là ma túy loại Methamphetamine cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong được niêm phong trong một phong bì ghi số 06/KLGĐ- PC09-MT theo đúng quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về Kết luận giám định số 06/KLGĐ-PC09- MT ngày 17/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình.
Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 05/01/2020 Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Phạm Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự (BLHS).
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Phạm Văn Q đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS; Xử phạt bị cáo Phạm Văn Q từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/12/2019.
Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS); Tịch thu tiêu hủy 0,2005 gam là ma túy loại Methamphetamine cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong được niêm phong trong một phong bì ghi số 06/KLGĐ-PC09- MT theo đúng quy định của pháp luật do cơ quan giám định hoàn trả lại và vỏ bao gói niêm phong ban đầu.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là khách quan phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của những người chứng kiến, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng; Kết luận giám định số 06/KLGĐ-PC09- MT ngày 17/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình. Như vậy đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 13/12/2019, tại khu vực đường P, phố 4, phường Đ, thành phố N. Phạm Văn Q có hành vi cất giữ trái phép 0,3201 gam chất ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân bị phát hiện bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về việc cất giữ chất ma tuý; Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, trách nhiệm hình sự, đồng thời biết rất rõ tác hại của ma túy và việc mua bán, tàng trữ, sử dụng ma tuý bị nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Đối chiếu với quy định của pháp luật hình sự, thấy: hành vi, tội danh và điều khoản áp dụng tại bản Cáo trạng, lời luận tội, các chứng cứ buộc tội bị cáo như Kiểm sát viên trình bày tại phiên toà là có căn cứ. Do đó, hành vi cất giữ trái phép 0,3201 gam là chất ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại bản án số 66/2018/HSST ngày 20/6/2018, Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt Phạm Văn Q 22 triệu đồng về tội “Đánh bạc”, Bị cáo chưa thi hành. Do đó, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm và phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy đinh tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi gặp Tổ công tác Công an phường N phối hợp với công an phường Đ yêu cầu kiểm tra hành chính, Duy (là người điều khiển xe mô tô) bỏ chạy còn bị cáo đã tự giác móc trong túi áo khoác bên hông trái đang mặc gói ma túy vừa mua được ra giao nộp cho Tổ công tác và khai nhận đó là gói ma túy mà bị cáo vừa mua về để sử dụng; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt, tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tạo điều kiện cho bị cáo cai nghiện, cải tạo thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Bị cáo tàng trữ ma tuý để sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích vụ lợi vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 0,2005 gam là ma túy loại Methamphetamine cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong được niêm phong trong một phong bì ghi số 06/KLGĐ-PC09- MT theo đúng quy định của pháp luật do cơ quan giám định hoàn trả lại và vỏ bao gói niêm phong ban đầu do cơ quan giám định hoàn trả lại được niêm phong trong 01 phong bì là vật nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định.
Các vấn đề khác:
- Về nguồn gốc số ma túy, Q khai mua của một người đàn ông không quen biết ở trong một ngõ nhỏ ven đường Quốc lộ 10 thuộc thôn D, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định, do đó không có căn cứ để điều tra xác minh.
- Đối với 01 điện thoại di động của Q dùng để liên lạc với Duy đi mua ma túy. Quá trình điều tra Q khai nhận đánh rơi chiếc điện thoại trên đường đi mua ma túy. Do Q không nhớ được vị trí đánh rơi chiếc điện thoại trên nên không có căn cứ để truy tìm.
- Đối với người thanh niên tên Duy rủ Q đi mua ma túy và góp tiền để mua ma túy. Q khai nhận không nhớ số điện thoại của Duy do mới quen Duy nên không biết tên tuổi và địa chỉ cụ thể nhà Duy ở đâu chỉ nghe nói nhà Duy ở khu vực cảng N, phường B, thành phố N. Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh trên địa bàn khu vực cảng N, thành phố N không có người thanh niên nào tên Duy có đặc điểm như Q khai nhận nên không có đủ căn cứ để xác minh làm rõ
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS; khoản 2 các điều 106, 135, 136 BLTTHS; các điều 21, 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu án phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Xử phạt bị cáo Phạm Văn Q 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/12/2019.
2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì được niêm phong theo quy định. (Chi tiết vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 31/01/2020 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N).
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Phạm Văn Q phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo (1); - TAND tỉnh Ninh Bình (1); - VKSND thành phố N (2); - Công an thành phố N (2); - Thi hành án HS (2); - Chi cục THADS thành phố N (1); - Trại tạm giam Ninh Binh (1); - Sở Tư pháp Ninh Bình (1); - Lưu (Hồ sơ, VP). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Nguyễn Ngọc Bình |