vanban.org

Bản án 14/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 29/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/Tuyên bố: Bị cáo Bùi Đình P phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2/ Hình phạt: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 260; các Điểm b, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt: Bị cáo Bùi Đình P 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Đình P phạm tội :Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260…"
  • Tòa quyết gì? 1/Tuyên bố: Bị cáo Bùi Đình P phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2020/HS-ST
Ngày 29/4/2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH QUẢNG NAM

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Công Trường.

- Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Nguyễn Đăng Thám.

+ Ông Phan Thành Tài.

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Đỗ Thị Ngọc Lan – Thư ký Toà án nhân dân huyện T.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên toà: Ông Trần Hữu Tám - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2020 tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện T xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 08/2020/TLST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

BÙI ĐÌNH P; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1991;

Nơi ĐKHKTT & chỗ ở: Khối phố 11, Phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam;

Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Bùi Đình L và bà Nguyễn Thị H; Tên vợ: Bạch Thị Mộng Tr - sinh năm 1993; bị cáo có 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại:

- Võ Tấn H – sinh năm 1994 (Chết).

* Người đại diện hợp pháp cho bị hại Võ Tấn H:

- Võ Tấn T – Sinh năm 1965 (cha ruột bị hại).

- Trần Thị S – Sinh năm 1964 (mẹ ruột bị hại).

Cùng trú tại: Tổ 1, Thôn N, xã Bình P, huyện T, tỉnh Quảng Nam

Bà S ủy quyền cho ông Võ Tấn T tham gia tố tụng (có mặt).

* Bị đơn dân sư:

- Ông Nguyễn Phú N – sinh năm 1935 (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Trú tại: Khu phố 5, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Bà Bùi Thị H – sinh năm 1944 (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Trú tại: Khu phố 5, phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Đình P có giấy phép lái xe hợp lệ số 490106002947 do sở Giao thông Vận tải tỉnh Quảng Nam cấp ngày 29/9/2015. Vào khoảng 20h ngày 21/10/2019, P điều khiển xe ô tô biển kiểm soát (BKS) 92C-069.40 (trên xe có anh Nguyễn Duy L; sinh năm: 1984; trú xã T, huyện P - là phụ xe) đến giao hàng tại cửa hàng Thanh Thịnh (thôn L, xã B, huyện T – sát lề đường Quốc lộ 1A, hướng Tam Kỳ - Đà Nẵng). Sau khi giao hàng xong, P điều khiển ô tô BKS 92C- 069.40 lưu thông sát lề đường phải theo hướng Tam Kỳ - Đà Nẵng để tìm nơi quay đầu xe về Tam Kỳ. Khi đến đoạn Km 969+ 150 Quốc lộ 1A (thuộc thôn L, xã B, huyện T) (Đoạn đường này được rải nhựa bằng phẳng, giữa đường có dải phân cách cứng bằng bê tông chia đường thành hai chiều xe chạy riêng biệt. Trên chiều đường hướng Tam Kỳ - Đà Nẵng có 2 vạch kẻ sơn không liên tục màu trắng, chia chiều đường thành 3 làn đường xe chạy, làn đường trái gần dải phân cách rộng 3,33m, làn đường giữa rộng 3,40m, làn đường phải rộng 1,95m; trên làn đường giữa có vạch mũi tên màu trắng chỉ hưởng đi thẳng; làn đường bên trái sát dải phân cách cứng có vạch mủi tên màu trắng chỉ hướng đi thẳng hoặc rẽ trái; hai bên đường là khu dân cư) P nhìn thấy biển báo cho phép ô tô quay đầu và nhìn kính chiếu hậu không có phương tiện lưu thông cùng chiều phía sau (theo lời khai của P), nên P bật tín hiệu xi nhan bên trái, đồng thời điều khiển ô tô đi chậm để chuyển hướng qua đường. Khi đầu xe ô tô 92C-069.40 do P điều khiển qua làn đường bên trái, đuôi xe ô tô 92C-069.40 còn ở làn đường giữa thì cùng lúc này có anh Võ Tấn H điều khiển xe mô tô BKS 92N1- 388.51 lưu thông cùng chiều đến tông vào phía sau bên trái đuôi xe ô tô BKS 92C-069.40 do P điều khiển.

Hậu quả vụ tai nạn giao thông: Anh Võ Tấn H bị thương nặng và chết trên đường đi cấp cứu.

Sau va chạm đầu xe ô tô 92C-069.40 nằm ở làn đường bên trái, đuôi ô tô 92C-069.40 nằm ở làn đường giữa; trục bánh trước bên phải cách lề đường 6,84m, trục bánh sau bên phải cách lề đường 4,86m. Xe mô tô 92N1- 388.51 nằm dưới gầm bên trái thùng sau xe ô tô 92C-069.40; trục bánh trước cách lề đường 6,14m, trục bánh sau cách lề đường 5,15m.

Tại Kết luận giám định pháp y tử thi số 238/GĐPY- PC09 ngày 25/10/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam kết luận: ông Võ Tấn H, sinh năm 1994, chết ngày 21/10/2019 trong vụ tai nạn giao thông xảy ra ngày 21/10/2019 tại Km 969+150 Quốc lộ 1A thuộc thôn L, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam là do sốc chấn thương, suy hô hấp - suy tuần hoàn cấp không hồi phục, hậu quả của đa chấn thương: Chấn thương sọ não, chấn thương ngực kín, gãy hở đoạn 1/3 dưới hai xương cẳng tay trái.

Tại bản cáo trạng số 16/CT-VKS ngày 21 tháng 02 năm 2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thăng Bình đã truy tố Bùi Đình P về tội tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình do vậy bản cáo trạng đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội. Nên đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát trong phần luận tội đã phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cùng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo được quy định tại Điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Bùi Đình P phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Bùi Đình P 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Bùi Đình P cho UBND phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 106 BLTTHS năm 2015 tuyên trả cho bị cáo Bùi Đình P 01 (một) giấy phép lái xe ô tô hạng B2 mang tên Bùi Đình Phước.

Về dân sự: Bị đơn dân sự ông Nguyễn Phú N và bị cáo Bùi Đình P đã bồi thường cho đại diện hợp pháp của anh Võ Tấn H số tiền là 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng). Đại diện hợp pháp của anh H đã bãi nại về dân sự và không có yêu cầu gì thêm nên đề nghị HĐXX không xét.

Tại phiên Tòa bị cáo Bùi Đình P thống nhất với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thăng Bình, truy tố bị cáo Bùi Đình P phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Ý kiến của người đại diện hợp pháp cho người bị hại H về hành vi phạm tội của bị cáo: Nhất trí với ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Tòa án xét xử xem xét miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo hoặc cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo Bùi Đình P thấy việc làm của mình là sai, vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối cải, xin lỗi gia đình bị hại và mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là đều hợp pháp.

Bị cáo Bùi Đình P có hành vi: Vào khoảng 20h ngày 21/10/2019, Bùi Đình P (có giấy phép lái xe hợp lệ hạng B2), điều khiển xe ô tô BKS 92C-069.40 lưu thông trên làn đường giữa Quốc lộ 1A hướng Tam Kỳ- Đà Nẵng. Khi đến đoạn Km 969+ 150 Quốc lộ 1A (thôn L, xã B, huyện T- đoạn đường không cho phép chuyển làn) P điều khiển ô tô 92C-069.40 chuyển qua làn đường trái và chuyển hướng qua đường. Khi đầu xe ô tô do P điều khiển đang ở làn đường trái, đuôi xe ô tô 92C-069.40 đang ở làn đường giữa thì anh Võ Tấn H điều khiển mô tô BKS 92N1-388.51 lưu thông cùng chiều đến tông vào phía sau bên trái đuôi xe ô tô 92C-069.40 do P điều khiển. Hậu quả vụ tai nạn giao thông Võ Tấn H bị thương nặng và chết trên đường đi cấp cứu.

Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo Bùi Đình P cấu thành tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a, khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 như bản cáo trạng đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Mọi công dân khi tham gia giao thông đều phải nghiêm chỉnh chấp hành Luật giao thông đường bộ để bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản của mình và của người khác. Bị cáo Bùi Đình P có bằng lái xe hợp lệ, bị cáo hoàn toàn nhận thức được về sự nguy hiểm khi điều khiển ôtô tham gia giao thông. Bị cáo Bùi Đình P điều khiển xe chuyển hướng để quay đầu xe khi đang ở làng đường không được phép chuyển hướng là vi phạm khoản 1 Điều 11, khoản 1 Điều 13 và khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ và vi phạm điểm a, khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Qua vụ án về phía người bị hại Võ Tấn H cũng có một phần lỗi chạy xe tốc độ nhanh, không làm chủ tay lái và không giữ khoảng cách an toàn với xe ô tô lưu thông cùng chiều phía trước để xảy ra tai nạn. Do đó, khi lượng hình HĐXX cần xử phạt bị cáo một mức án thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ lỗi và hậu quả do bị cáo gây ra, nhằm răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Bị cáo Bùi Đình P không có tình tiết tăng nặng; bị cáo có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn, có thái độ ăn năn hối cải. Hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình. Bị cáo phạm tội lần đầu. Bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho đại diện hợp pháp của bị hại Võ Tấn H, tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị hại Võ Tấn H mong Hội đồng xét xử xem xét miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo hoặc cho bị cáo được hưởng án treo. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ được áp dụng tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nhưng bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, qua vụ án về phía người bị hại cũng có một phần lỗi nên không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà có thể cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Phần dân sự: Bị đơn dân sự ông Nguyễn Phú N và bị cáo Bùi Đình P đã thống nhất thỏa thuận bồi thường cho đại diện hợp pháp của anh Võ Tấn H số tiền là 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng). Đại diện hợp pháp của anh H đã bãi nại về dân sự và không có yêu cầu gì thêm nên HĐXX không xét.

Về vật chứng: Trong quá trình điều tra cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo Bùi Đình P 01 (một) giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Bùi Đình P. Áp dụng Điều 106 BLTTHS năm 2015 tuyên trả lại cho bị cáo Bùi Đình P 01 (một) giấy phép lái xe ô tô hạng B2 mang tên Bùi Đình P.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135; 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí tòa án;

(7) Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/Tuyên bố: Bị cáo Bùi Đình P phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2/ Hình phạt: Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 260; các Điểm b, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Đình P 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Bùi Đình P cho UBND phường A, thành phố T, tỉnh Quảng Nam giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp nếu người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

3/ Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 BLTTHS năm 2015 tuyên trả cho bị cáo Bùi Đình P 01 (một) giấy phép lái xe ô tô hạng B2 mang tên Bùi Đình P.

4/ Án phí Hình sự sơ thẩm: Áp dụng Khoản 2 Điều 135 và Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí tòa án buộc bị cáo Bùi Đình P phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) án phí HSST.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.

Bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (trong phạm vi quyền hạn của mình) vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích sao bản án hoặc niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ