vanban.org

Bản án 14/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình Tuyên án 26/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Bùi Thị D phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Hình phạt: Xử phạt bị cáo Bùi Thị D 01 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 17/01/2020; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thị D - Bị truy tố tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Bùi Thị D phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KIẾN XƯƠNG
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2020/HSST
Ngày 28 - 4 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Xuân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh Sơn

2. Bà Đoàn Thị D

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Ngoan - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hƣờng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2020/HSST ngày 27 tháng 3 năm 2020 theo quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 13/2020/QĐXXST- HS ngày 16/4/2020 đối với bị cáo:

Bùi Thị D, sinh ngày 08/4/1988 tại xã Vũ Tây, huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình;

Nơi cƣ trú: thôn Quang Minh, xã Vũ Tây, huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Xuân X và bà Đặng Thị T; có chồng là Đỗ Thế Đ hiện đã ly thân và không sinh sống tại địa phƣơng; có 01 con sinh năm 2011. Tiền sự: Không;

Tiền án: Bản án số 191/2015/HSST ngày 06/11/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xử phạt 05 năm tù giam về tội “ Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/4/2019, chƣa chấp hành xong phần trách nhiệm dân sự

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17/01/2020 đến ngày 23/01/2020 chuyển tạm giam đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình; có mặt;

* Bị hại:

- Ông Nguyễn Đăng K, sinh năm 1968, vắng mặt

Nơi cƣ trú: số nhà 32, ngõ 118, tổ 21, phƣờng B, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

- Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1974, vắng mặt

Nơi cƣ trú: thôn Đ, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình

* Ngƣời làm chứng:

- Anh Vũ Hữu P, sinh năm 1975, vắng mặt

Nơi cƣ trú: khu C, thị trấn T, huyện K, tỉnh Thái Bình.

- Ông Vũ Văn L, sinh năm 1965, vắng mặt

Nơi cƣ trú: thôn T, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình

- Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1972, vắng mặt

Nơi cƣ trú: thôn V, xã H, huyện K, tỉnh Thái Bình

- Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1979, vắng mặt

Nơi cƣ trú: thôn L, xã T, huyện V, tỉnh Thái Bình

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 17/01/2020, Bùi Thị D đi bộ từ nhà ra đƣờng trục chính xã Vũ Tây và đi nhờ xe máy của ngƣời đi đƣờng lên thành phố Thái Bình với mục đích trộm cắp xe máy để có tiền ăn tiêu. Khoảng 15 giờ, bị cáo D đi bộ đến khu vực cổng Trƣờng THCS Minh Thành, phƣờng Bồ Xuyên, thành phố Thái Bình, bị cáo phát hiện có xe mô tô hiệu VECSTAR màu xanh, biển kiểm soát 17H4 - 6367 của ông K dựng trƣớc cửa nhà không có ngƣời trông coi, bị cáo dùng chìa khóa mang theo từ trƣớc, mở khóa và điều khiển xe đi đến đƣờng vành đai thuộc xã Vũ Đông, thành phố Thái Bình thì dừng lại. Bị cáo để chiếc ví đựng ma túy vào cốp xe và tiếp tục điều khiển xe về huyện Kiến Xƣơng để tìm nơi tiêu thụ. Khi đi đến khu Cộng Hòa, thị trấn Thanh Nê, huyện Kiến Xƣơng, bị cáo nhìn thấy chiếc xe mô tô hiệu DETECH màu đỏ, chìa khóa xe cắm ở ổ khóa điện, biển kiểm soát 90F7 - 3938 của anh K để ở vỉa hè trƣớc cửa nhà anh P, bị cáo nảy sinh ý đinh trộm cắp. Bị cáo đi vào khu đô thị Tân Tiến, thị trấn Thanh Nê để xe mô tô 17H4 - 6367 ở gần khu vui chơi rồi đi bộ đến cửa nhà anh P, bị cáo thấy không có ngƣời nên lấy xe và điều khiển xe chạy về hƣớng khu đô thị Tân Tiến. Lúc này anh K nhìn thấy nên mƣợn xe mô tô của anh P đuổi theo bị cáo qua khu đô thị Tân Tiến đến xã Bình Minh rồi chạy tiếp ra đƣờng 458 về hƣớng thành phố Thái Bình. Khi đến địa phận thôn Nam Tiền, xã Hòa Bình, huyện Kiến Xƣơng, anh K thấy ông L, anh Đ và anh V đang đi tuần tra nên hô “ Trộm”. Tổ công tác cùng anh K truy đuổi bị cáo đến đoạn đƣờng trƣớc cửa chùa Hải Lâm thuộc thôn Trung Hòa xã Hòa Bình, tổ công tác đã bắt đƣợc bị cáo cùng chiếc xe đã trộm cắp của anh K. Lúc này anh K đi đến và xác nhận xe của mình bị mất. Tổ công tác đã đƣa bị cáo D cùng chiếc xe về trụ sở UBND xã Hòa Bình lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang. Căn cứ lời khai của bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ tại khu đô thị Tân Tiến, thị trấn Thanh Nê chiếc xe mô tô biển kiểm soát 17H4 - 6367, trong cốp xe có 01 chiếc ví da màu nâu, trong ví có 01 gói bên ngoài gói bằng giấy tráng kim màu trắng và 2.870.000 đồng.

Kết luận định giá tài sản số 01/KL - HĐĐG ngày 20/01/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Kiến Xƣơng kết luận: chiếc xe mô tô hiệu DETECH màu đỏ, biển kiểm soát 90F7 - 3938, tại thời điểm định giá có trị giá 2.100.000 đồng.

Kết luận định giá tài sản số 03/KL - HĐĐG ngày 07/02/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Thái Bình Kiến Xƣơng kết luận: chiếc xe mô tô hiệu VECSTAR màu xanh, biển kiểm soát 17H4 - 6367, tại thời điểm định giá có trị giá 1.030.000 đồng.

Kết luận giám định số 34/KLGĐ-PC09 ngày 18/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lƣợng 0.0155 gam.

Kết luận giám định số 35/KLGĐ-PC09 ngày 18/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: mẫu vật gửi giám định có chứa sản phẩm chuyển hóa của ma túy, loại Heroine.

Kết luận giám định số 16/KLGĐ-PC09 ngày 18/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: xe mô tô hiệu VECSTAR màu xanh, biển kiểm soát 17H4 - 6367 và xe mô tô hiệu DETECH màu đỏ, biển kiểm soát 90F7 - 3938 đều có số khung, số máy không bị tẩy xóa, sửa chữa, đục lại.

Vật chứng của vụ án:

- Cơ quan điều tra Công an huyện Kiến Xƣơng đã trả lại cho ông K xe mô tô hiệu VECSTAR màu xanh, biển kiểm soát 17H4 - 6367 và anh K xe mô tô hiệu DETECH màu đỏ, biển kiểm soát 90F7 - 3938.

- 0,0155 gam Heroine đựng trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 34/KLGĐ và 01 ví da nữ màu nâu kích thƣớc 10 x 20cm, trên nắp có khuy, cúc bấm có dòng chữ YUUMY chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiến Xƣơng quản lý theo quy định pháp luật.

- Số tiền 2.876.000 đồng đang đƣợc quản lý tại tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiến Xƣơng theo ủy nhiệm chi ngày 31/3/2020 của Công an huyện Kiến Xƣơng.

- 01 chiếc chìa khóa bị cáo dùng để mở khóa xe mô tô của ông K, bị cáo khai đã bị rơi trong quá trình điều khiển xe, Cơ quan Cảnh sát điều tra huyện Kiến Xƣơng đã truy tìm nhƣng không thấy.

Về trách nhiệm dân sự:

Ông K và anh K đã nhận lại xe mô tô của mình bị mất và không ai có yêu cầu gì khác.

- Tại bản Cáo trạng số 17/CT -VKSKX ngày 27/3/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo Bùi Thị D về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Bùi Thị D về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

- Đề nghị:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo D mức án từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo D.

Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết vì bị hại đã nhận lại tài sản; không có ý kiến yêu cầu bồi thƣờng thêm.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện Kiến Xƣơng đã trả lại chiếc xe mô tô hiệu VECSTAR màu xanh, biển kiểm soát 17H4 - 6367 và xe mô tô hiệu DETECH màu đỏ, biển kiểm soát 90F7 - 3938 cho các chủ sở hữu là ông K và anh K là có căn cứ, đúng pháp luật.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu của bị cáo.

01 ví giả da màu nâu kích thƣớc 11 x 20cm, do không còn giá trị sử dụng và bị cáo không đề nghị nhận lại, vì vậy cần tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.

Số tiền 2.870.000 đồng thu giữ của bị cáo D, không liên quan đến hành vi phạm tội vì vậy cần trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo D không tranh luận gì và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Kiến Xƣơng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xƣơng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa những ngƣời tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời có thẩm quyền tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với đơn trình báo và lời khai của các bị hại, biên bản xác định vị trí địa điểm, biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Vì vậy có đủ căn cứ xác định: Khoảng 15 giờ ngày 17/01/2020, tại trƣớc cửa nhà 32, ngõ 118, tổ 21, phƣờng Bồ Xuyên, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, bị cáo D đã trộm cắp 01 xe mô tô hiệu VECSTAR màu xanh, biển kiểm soát 17H4 - 6367 trị giá 1.030.000 đồng của ông Nguyễn Đăng K. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, tại trƣớc cửa nhà anh Vũ Hữu P thuộc khu Cộng Hòa, thị trấn Thanh Nê, huyện Kiến Xƣơng, tỉnh Thái Bình, bị cáo D tiếp tục trộm cắp 01 xe mô tô hiệu hiệu DETECH màu đỏ, biển kiểm soát 90F7 - 3938 trị giá 2.100.000 đồng của anh Nguyễn Văn K. Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 3.130.000 đồng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản công dân đƣợc pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự công cộng, trật tự pháp luật, gây mất trật tự an ninh tại địa phƣơng. Bị cáo là ngƣời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết hậu quả của hành vi do mình thực hiện nhƣng vì lƣời lao động mà vẫn muốn có tiền tiêu xài nên đã cố ý nhiều lần lén lút chiếm đoạt tài sản của nhiều ngƣời. Vì vậy cần phải áp dụng hình phạt xử phạt tƣơng ứng với tính chất, mức độ đối với hành vi phạm tội của bị cáo, có nhƣ vậy mới đủ tác dụng cải tạo giáo dục đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung. Bị cáo D đã bị kết án 05 năm tù về tội “ Trộm cắp tài sản”, chƣa đƣợc xóa án tích mà còn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trị giá 1.030.000 đồng là tình tiết định khung quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và cùng ngày bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản giá trị 2.100.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản", tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự (sau đây viết tắt là BLHS).

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:

Bị cáo bị áp dụng 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xét đến trong quá trình truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo và đầu thú - là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập, gia đình thuộc hộ cận nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng

Xét thấy, Cơ quan điều tra Công an huyện Kiến Xƣơng đã trả lại cho bị hại là ông K và anh K các tài sản bị trộm cắp, bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thƣờng nên Tòa án không đặt ra giải quyết về trách nhiệm dân sự giữa bị cáo với bị hại.

Về vật chứng của vụ án: Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, số ma túy thu của bị cáo là vật Nhà nƣớc cấm lƣu hành, cấm tàng trữ; 01 ví giả da màu nâu kích thƣớc 11 x 20cm thu giữ của bị cáo D, do không còn giá trị sử dụng và bị cáo không đề nghị nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.

Số tiền 2.870.000 đồng thu giữ của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội vì vậy cần trả lại cho bị cáo D theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với hành vi tàng trữ trái phép 0,0155 gam Heroine và hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo thì thấy: bị cáo không có tiền án, tiền sự về các hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển, tổ chức sử dụng chất và tiền chất ma túy, khối lƣợng Heroine dƣới 0,1 gam nên không đủ yếu tố cấu thành tội” Tàng trữ trái phép chất ma túy”, Công an huyện Kiến Xƣơng đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 21 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 là phù hợp.

Về nguồn gốc số may túy thu giữ của bị cáo khai mua của một ngƣời đàn ông không quen biết ở cây xăng Chƣơng Thọ xã Vũ Lạc thành phố Thái Bình do không xác định đƣợc ngƣời bán nên không có căn cứ để xử lý.

Về án phí: Bị cáo Bùi Thị D thuộc hộ cận nghèo nên đƣợc miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của UBTVQH.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố:

- Bị cáo Bùi Thị D phạm tội "Trộm cắp tài sản".

2. Hình phạt:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, Điều 38, Điều 50, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Bùi Thị D 01 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 17/01/2020;

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo Bùi Thị D.

3. Xử lý vật chứng:

Áp Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kiến Xƣơng trả lại xe mô tô hiệu VECSTAR màu xanh, biển kiểm soát 17H4 - 6367 cho ông Nguyễn Đăng K và xe mô tô hiệu hiệu DETECH màu đỏ, biển kiểm soát 90F7 - 3938 cho anh Nguyễn Văn K.

- Tịch thu toàn bộ số Heroine thu của bị cáo đƣợc hoàn trả sau giám định đựng trong phong bì niêm phong số 34/KLGĐ của Phòng KTHS Công an tỉnh Thái Bình và 01 ví da màu nâu, kích thƣớc 10x20cm, trên nắp có khuy, cúc bấm có dòng chữ YUUMY để tiêu hủy.

- Trả lại cho bị cáo Bùi Thị D số tiền 2.870.000 đồng. Số tiền này đang đƣợc quản lý tại tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiến Xƣơng theo ủy nhiệm chi ngày 31/3/2020 của Công an huyện Kiến Xƣơng

4. Án phí: Căn cứ Điều 135, 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Bùi Thị D đƣợc miễn án phí hình sự sơ thẩm.

5. Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo - Báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 28/4/2020; bị hại vắng mặt tại phiên tòa - Báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết./

Cỡ chữ