- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi Van L1 phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vi Văn L1 phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 14/2020/HS-ST Ngày 05/02/2020 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quýnh
Các hội thẩm nhân dân: Ông: Trần Mạnh Hùng và ông Nguyễn Đình Khánh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hải Lê - Là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Vọng - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 02 năm 2020, tại Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 03/2020/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2020/QĐXXST-HS ngày 21/01/2020, đối với bị cáo:
Họ và tên: Vi Văn L1; Tên gọi khác: không; Sinh ngày: 29/5/20xx, tại huyện H1, tỉnh A; Nơi ĐKHKTT: Xóm K1, xã L2, huyện H1, tỉnh A; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Vi Văn K2 và bà: Lò Thị N1; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt quả tang ngày 02/12/2019, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ công an thành phố Cẩm Phả – Có mặt tại phiên tòa.
* Người chứng kiến: Anh Trịnh Xuân T1, Triệu Quang S1 – Đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 02/12/2019, tại khu vực tổ 57, khu S2 1, phường Đ1, thành phố P, Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy kết hợp với Công an phường T2 đã bắt quả tang Vi Văn L1 có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói giấy trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng có khối tổng khối lượng là 0,215 gam ma túy loại heroine và còn thu giữ của L1: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi không có sim, 01 ví da bên trong có số tiền 4.500.000 đồng, 01 giấy chứng minh nhân dân và 01 thẻ ATM ngân hàng Vietinbank đều mang tên Vi Văn L1.
Tại bản kết luận giám định số 941/GĐMT ngày 04/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận:
+ Chất bột màu trắng trong 01 gói giấy thu giữ của Vi Văn L1 là ma túy, loại heroine, tổng khối lượng 0,215 gam.
Tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo Vi Văn L1 khai nhận về hành vi phạm tội đúng như nội dung vụ án đã nêu, cụ thể: Bị cáo sử dụng ma túy từ tháng 5 năm 2019, loại ma túy bị cáo sử dụng là heroine, khoảng 20 giờ 25 phút ngày 02/12/2019 do có nhu cầu sử dụng ma túy bị cáo đã gọi điện cho một người đàn ông không quen biết có số điện thoại 0387.883.xxx hỏi mua 500.000 đồng, người đàn ông đó đã hẹn bị cáo đến ngõ cạnh cây xăng phường Đ1, thành phố P để giao dịch mua bán ma túy. Bị cáo đi xe ôm đến chỗ hẹn gặp mua được của người đàn ông đó 01 gói ma túy với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy bị cáo cất vào trong túi áo khoác bên phải đang mặc rồi đi bộ về hướng đường quốc lộ 18A được khoảng 10 mét thì bị công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng gồm 01 gói ma túy loại heroine gói trong giấy màu trắng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen có sim số 098106xxxx bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma túy, 01 điện thoại Redmin màu đen không lắp sim, 01 ví giả da màu đen bên trong có 01 chứng minh nhân dân, 01 thẻ ATM của ngân hàng Vietinbank và số tiền 4.500.000 đồng là của bị cáo đi lao động mà có; Chiếc điện thoại Redmin, thẻ ATM, ví giả da và chứng minh nhân dân đều không liên quan đến việc phạm tội. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, không bị oan. Bị cáo thấy ân hận về hành vi phạm tội của mình nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Anh Trịnh Xuân T1, Triệu Quang S1 – là người chứng kiến trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: Các anh chứng kiến công an kiểm tra Vi Văn L1, thu tại túi áo khoác bên phải L1 đang mặc 01 gói giấy màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng, L1 khai nhận đó là ma túy heroine ngoài ra công an còn thu giữ của L1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen có sim, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmin màu đen không có sim, 01 ví giả da màu đen bên trong có 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 thẻ ATM của ngân hàng Vietinbank đều mang tên Vi Văn L1 và số tiền 4.500.000 đồng. Công an đã tiến hành lập biên bản, niêm phong số ma túy heroine và các vật chứng thu giữ của Long theo đúng quy định.
Bản cáo trạng số 06/CT-VKSCP ngày 10/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo Vi Văn L1 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Vi Văn L1 từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/12/2019 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Áp dụng: Điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định, tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại Nokia màu đen. Trả lại cho bị cáo Vi Văn L1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmin, 01 ví giả da, 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 thẻ ATM mang tên Vi Văn L1 và số tiền 4.500.000 đồng không liên quan đến việc phạm tội.
Tại phần tranh luận, bị cáo không tranh luận gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đến mức thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cẩm Phả, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được qui định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vi Văn L1 không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà Vi Văn L1 khai nhận về hành vi phạm tội đúng với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 21 giờ 15 phút ngày 02/12/2019; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; cũng như Bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; Phù hợp với lời khai của những người chứng kiến và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Vi Văn L1 đã có hành vi tàng trữ 0,215 gam ma túy loại Heroine vào ngày 02/12/2019 nhằm mục đích để sử dụng thì bị công an phát hiện bắt giữ nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, do vậy cần chấp nhận lời luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma tuý, gây mất trật tự trị an xã hội. Việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý không chỉ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, trí lực của con người, mà còn làm phát sinh nhiều tội phạm khác và là hiểm hoạ đối với mọi gia đình và xã hội. Chính vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử có xem xét bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối hận về hành vi phạm tội đã gây ra, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố mẹ sống ly thân nhau được chú nuôi dưỡng từ nhỏ nên không nhận được sự quan tâm, giáo dục của gia đình. Mặt khác bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nhận thức cũng phần nào hạn chế nên cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định lại nghiện ma túy, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì còn nguyên dấu niêm phong số: 599/GĐMT của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh bên trong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định đây là vật nhà nước cấm lưu hành nên tuyên tịch thu tiêu hủy. Cơ quan công an thu giữ của bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước; Công an còn thu giữ của bị cáo: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmin màu đen, 01 ví giả da bên trong có 01 thẻ ATM, 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Vi Văn L1 và số tiền 4.500.000 đồng không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Đối với đối tượng bán ma túy cho Vi Văn L1, theo số điện thoại lưu trong máy điện thoại thu giữ của bị cáo L1, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cẩm Phả đã tiến hành tra cứu tại Tập đoàn viễn thông quân đội Viettel nhưng chưa có kết quả, bao giờ làm rõ sẽ xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã đặc biệt khó khăn theo Quyết định số 900/QĐ TTg ngày 20/6/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh sách xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu vào diện đầu tư của chương trình 135 giai đoạn 2017 – 2020 nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Vi Văn L1 phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Xử phạt: Vi Văn L1 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/12/2019;
Căn cứ vào: Điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì số: 941/GĐMT còn nguyên dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Quảng Ninh bên trong chứa mẫu vật hoàn trả sau giám định.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, model: TA-1010, số IMEI 355763106268xxx, kèm 01sim.
Trả lại cho bị cáo Vi Văn L1: 4.500.000đ (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng) và: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmin, màu đen, model: M1901F7G không kèm sim; 01 ví giả da màu đen đã qua sử dụng; 01 giấy chứng minh nhân dân số 187975108 cấp ngày 16/02/2019, 01 thẻ ATM ngân hàng Vietinbank số 9704151536590xxx đều mang tên Vi Văn L1.
Tình trạng vật chứng, tài sản thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 57/BB-THA ngày 04/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vi Văn L1.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh QN; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh QN; - Viện kiểm sát nhân dân TP. Cẩm Phả \ - Công an TP Cẩm Phả, CQ THA hình sự; - Trại tạm giam Công an tỉnh QN; - Chi cục thi hành án dân sự TP.Cẩm Phả; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, lưu văn phòng. | THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Nguyễn Thị Quýnh |