vanban.org

Bản án 14/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 05/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Mạnh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

*Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: bị cáo Trần Mạnh L 15 (mười năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại thụ hình (được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 05/10/2019 đến ngày 14/10/2019). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Mạnh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC KẠN
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2020/HS-ST
Ngày 05/3/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Tạ Văn Tư

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hoàng Thị Thu Hiền

2. Ông Nguyễn Chiến Thịnh

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Lộc - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Bà Đỗ Mai Linh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 3 năm 2020, Tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2020/HSST, ngày 13 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2020/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Trần Mạnh L sinh ngày 09/10/1979; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ A, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Văn Q và bà Lý Kiều L1; Có vợ là Chu Thị L2 (đã ly hôn) và 01 con; Tiền sự: Không; Tiền án: 01 tiền án. Ngày 15/3/2013 bị TAND thị xã Bắc Kạn (nay là thành phố Bắc Kạn), tỉnh Bắc Kạn xử phạt 7 năm tù về tội “mua bán trái phép chất ma túy”; Ngày 17/01/2019 chấp hành án xong hình phạt tù, đến nay chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/10/2019 đến ngày 14/10/2019 thì được thay thế biện pháp ngăn chặn. Hiện bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

*Người bào chữa cho bị cáo:

Ông Hà Văn Tạ là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Bắc Kạn. (có mặt).

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Lý Kiều L1 sinh năm 1958, (vắng mặt);

Địa chỉ: Tổ A, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 00 phút ngày 05/10/2019, tại khu vực tổ C, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, Công an thành phố Bắc Kạn phát hiện Trần Mạnh L có biểu hiện tàng trữ trái phép chất ma túy nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra đã phát hiện và thu giữ của Trần Mạnh L 01 (một) gói được gói bằng giấy vệ sinh màu trắng bên trong có 03 (ba) gói đều được gói bằng loại giấy có chữ in, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng (rơi ra từ trong quần của Trần Mạnh L đang mặc). Tiến hành cân xác định số chất bột màu trắng nói trên có tổng khối lượng là 0,2g (Không phẩy hai gam), sau khi cân đã niêm phong toàn bộ số chất bột vào phong bì ký hiệu M1 gửi giám định. Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha BKS 97F7 - 62… cùng chìa khóa xe mà L đang sử dụng, 01 (một) xilanh nhựa và 01 (một) lọ nước cất chưa qua sử dụng (được kẹp ở giá để hàng đằng trước xe mô tô).

Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét nơi ở của Trần Mạnh L tại Tổ A, phường S, thành phố B. Qua khám xét không phát hiện và thu giữ gì.

Tại bản kết luận giám định số 143/KTHS-MT ngày 10/10/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, loại heroine, có khối lượng là 0,20g. (Không phẩy hai không gam)”.

Tại Cơ quan điều tra, Trần Mạnh L khai nhận: 03 (ba) gói ma túy bị Cơ quan điều tra thu giữ khi bắt quả tang là của L tàng trữ với mục đích để sử dụng cho bản thân. Về nguồn gốc ma túy: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 05/10/2019, L một mình điều khiển xe mô tô BKS 97F7 - 62… đến khu vực Tổ D, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn rồi mua với một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ 01 gói được gói bằng giấy vệ sinh màu trắng bên trong có 03 gói nhỏ heroine đều được gói bằng giấy có chữ in với số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng). Sau đó L đi mua 01 chiếc xi lanh và 01 lọ nước cất rồi điều khiển xe mô tô đến khu vực Tổ C, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn để sử dụng ma túy, nhưng chưa kịp sử dụng thì có tổ công tác Công an thành phố Bắc Kạn đến kiểm tra. Do lo sợ nên L đã cất gói ma túy vừa mua được vào cạp quần đang mặc, khi kiểm tra người L thì gói ma túy rơi từ trong cạp quần ra và cơ quan Công an đã phát hiện và thu giữ.

Quá trình điều tra, truy tố Trần Mạnh L thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của L phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên toà sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Tại Cáo trạng số 12/CT-VKSTP ngày 11/02/2020 của VKSND thành phố Bắc Kạn truy tố bị cáo Trần Mạnh L về tội “Tàng Trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và tại bản luận tội của Viện kiểm sát tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cụ thể như sau:

*Tuyên bố bị cáo Trần Mạnh L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng: điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Mạnh L từ 15 (mười năm) tháng tù đến 18 (mười tám) tháng tù và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

*Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: Các phong bì ký hiệu T143, M2 còn niêm phong; 01 xi lanh nhựa và 01 lọ nước cất đều chưa qua sử dụng.

*Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Miễn nộp toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

TTạạii pphhiiêênn ttòòaa,, nnggưườờii bbààoo cchhữữaa cchhoo bbịị ccááoo đđềề nngghhịị HHộộii đđồồnngg xxéétt xxửử xxeemm xxéétt áápp ddụụnngg ccáácc ttììnnhh ttiiếếtt ggiiảảmm nnhhẹẹ đđốốii vvớớii bbịị ccááoo llàà:: BBịị ccááoo đđãã nnhhậậnn tthhứứcc đđưượợcc hhàànnhh vvii pphhạạmm ttộộii,, tthhàànnhh kkhhẩẩnn kkhhaaii bbááoo;; BBịị ccááoo llàà llaaoo đđộộnngg cchhíínnhh ttrroonngg ggiiaa đđììnnhh tthheeoo qquuyy đđịịnnhh ttạạii đđiiểểmm ss kkhhooảảnn 11,, kkhhooảảnn 22 ĐĐiiềềuu 5511 BBộộ lluuậậtt hhììnnhh ssựự vvàà đđềề nngghhịị xxửử pphhạạtt bbịị ccááoo ttừừ 1122 ((mmưườờii hhaaii)) tthháánngg đđếếnn 1188 ((mmưườờii ttáámm)) tthháánngg ttùù..

Bị cáo nói lời sau cùng, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Bắc Kạn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà, bị cáo Trần Mạnh L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng khác và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đủ cơ sở kết luận: Ngày 05/10/2019, tại khu vực Tổ C, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, Trần Mạnh L đã có hành vi tàng trữ 0,20g (Không phẩy hai không gam) ma túy, loại heroine với mục đích để sử dụng.

Hành vi nêu trên của Trần Mạnh L đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Điều luật có nội dung:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 5 năm:

…..

c) Heroine…có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…..

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 5 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Cáo trạng số 12/CT-VKSTP ngày 11/02/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an, an ninh xã hội. Vì vậy, phải được xử lý bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là: Người phạm tội thành khẩn khai báo; Bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng là tái phạm. Xét bị cáo có nhân thân xấu, sau khi chấp hành xong hình phạt tù bị cáo không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm, mà lại lao vào con đường nghiện chất ma tuý, nên khi xem xét lượng hình cần phải có một hình phạt thỏa đáng tương ứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không đủ căn cứ để điều tra xác minh.

Về vật chứng trong vụ án:

Trong quá trình điều tra Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Kạn đã xử lý vật chứng, cụ thể như sau:

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha BKS 97F7 - 62…, Cơ quan điều tra tạm giữ trong quá trình bắt quả tang, qua điều tra xác định chiếc xe trên là của bà Lý Kiều L1, là mẹ đẻ của Trần Mạnh L, vào ngày 05/10/2019, khi L mượn xe thì bà L1 không biết L đã sử dụng xe vào việc đi mua ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 12/11/2019, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho bà L1 là có căn cứ.

Đối với các vật chứng sau: 01 phong bì niêm phong ký hiệu T143; 01 phong bì niêm phong ký hiệu M2; 01 xi lanh nhựa và 01 lọ nước cất đều chưa qua sử dụng. Tất cả đều không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo nghiện chất ma túy, gia đình là hộ nghèo nên không áp dụng.

Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt và xử lý vật chứng là phù hợp với nhận định trên nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với đề nghị của Người bào chữa, Hội đồng xét xử sẽ xem xét, cân nhắc đối với bị cáo.

Về án phí: Gia đình bị cáo là hộ nghèo và bị cáo có đơn xin miễn án phí nên không áp dụng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Mạnh L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

*Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

- Xử phạt: bị cáo Trần Mạnh L 15 (mười năm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại thụ hình (được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 05/10/2019 đến ngày 14/10/2019).

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong ký hiệu T143; 01 phong bì niêm phong ký hiệu M2; 01 xi lanh nhựa và 01 lọ nước cất đều chưa qua sử dụng.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18/02/2020 giữa Công an thành phố Bắc Kạn và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn).

3. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí: Miễn nộp toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ