vanban.org

Bản án 14/2020/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 26/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo G 17 (mười bảy) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 26/9/2019.

Phạt bổ sung bị cáo G số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung Ngân sách Nhà nước. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Trường Thanh Giang - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo G 17 (mười bảy) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 26/9/2019.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2020/HS-ST
Ngày: 26-5-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bình.

Thẩm phán: Bà Nguyễn Thanh Minh Châu.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lâm Thị Kiều Dung;

2. Ông Nguyễn Minh Hùng;

3. Bà Lê Thị Kim Oanh.

Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Huy Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Ngô Văn Chung - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2020/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2020/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: G, sinh năm 1994, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Ấp 4, xã C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đ và bà O; bị cáo có vợ là K và 01 người con; tiền án, tiền sự: Không có; bị tạm giữ từ ngày 26/9/2019, chuyển tạm giam từ ngày 02/10/2019 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Vương Sơn Hải - Công ty Luật TNHH MTV Song Hà Luật - Thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Tây Ninh; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 21 giờ 50 phút, ngày 26/9/2019, bị cáo G từ trên xe ô tô biển số 51G-894.47 bước xuống đi đến trước nhà Số 32, ấp M, xã B, huyện T, tỉnh Tây Ninh để tìm bạn thì bị lực lượng Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh kiểm tra, phát hiện bị cáo G trên tay xách túi nylon, bên trong có 01 vỏ bịch sửa hiệu Vinamilk có chứa 02 bịch nylon màu trắng loại bóp dính miệng, chứa chất tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy, nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo G về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ 02 bịch nylon chứa chất tinh thể màu trắng được niêm phong (ký hiệu M) và một số đồ vật khác.

Tại Kết luận giám định số 1462/KL-KTHS ngày 28/9/2019 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng bên trong 02 bịch nylon loại bóp dính miệng (ký hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy, là loại Methamphetamine, khối lượng 100,5282 gam.

Qua điều tra, bị cáo G khai nhận: Vào ngày 26/9/2019, bị cáo đến khu vực vườn cao su thuộc Ấp 4, xã C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh gặp người tên P (không rõ họ tên, địa chỉ) mua 12.000.000 đồng ma túy đá. Mua xong, bị cáo bỏ ma túy trong vỏ bịch sửa tươi cất giấu. Sau đó, bị cáo thuê xe ô tô biển số 51G-894.47 của anh Đ đi Tây Ninh, tìm người bạn tên T (không rõ họ tên, địa chỉ) để sử dụng ma túychung.

Kê biên tài sản: Bị cáo G không có tài sản nên không tiến hành kê biên.

Cáo trạng số 02/CT-VKS-P1 ngày 15/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo G về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật đã áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo G phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo G mức án từ 16 năm tù đến 17 năm tù.

Phạt bổ sung bị cáo G từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng Nộp Ngân sách Nhà nước.

Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo G thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng.

Người bào chữa cho bị cáo, Luật sư Vương Sơn Hải trình bày: Thống nhất tội danh và điều luật của Viện kiểm sát đã đề nghị đối với bị cáo G. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo, bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo G đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản khám nghiệm hiện trường; Sơ đồ hiện trường; Kết luận giám định; lời khai của người làm chứng; vật chứng vụ án cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Có đủ căn cứ xác định: Bị cáo G là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, là đối tượng nghiện ma túy. Vào lúc 21 giờ 50 phút, ngày 26/9/2019, tại khu vực trước nhà Số 32, ấp M, xã B, huyện T, tỉnh Tây Ninh bị cáo có hành vi cất giấu trái phép 100,5282 gam chất ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng.

Do đó, hành vi của bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Vụ án mang tính chất đặc biệt nghiêm trọng; hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an cho xã hội; bị cáo nhận thức được mức độ nguy hiểm của chất ma túy nhưng bị cáo vẫn tàng trữ số lượng ma túy rất lớn, thể hiện thái độ xem thường pháp luật. Mặt khác, đây là loại tội phạm gây hậu quả rất xấu cho xã hội và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó, cần phải nghiêm trị để nâng cao tính răn đen, giáo dục và phòng ngừa.

Khi quyết định hình phạt có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền để sung ngân sách Nhà nước.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) bì thư được niêm phong có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai, trợ lý giám định Nguyễn Văn Đại và dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, khối lượng còn lại sau khi giám định bên trong gồm có (kí hiệu M) là loại Methamphetamine, khối lượng 98,2070 gam, theo Kết luận giám định số 1462/KL-KTHS ngày 28/9/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh là ma túy bị cáo tàng trữ trái phép cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) quẹt gas bằng kim loại màu tím, đã qua sử dụng; 01 (một) vỏ bao sửa hiệu Vinamilk, loại 220 ml, bị rách một đường ở mặt sau; 02 (hai) bịch nylon loại bóp miệng có sọc màu xanh; 01 (một) đoạn ống hút màu đỏ sọc trắng, một đầu bị cắt xéo không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với số tiền Việt Nam 8.300.000 đồng; 02 (hai) điện thoại di động hiệu Nokia, đã qua sử dung, 01 (một) màu đen, số imei 354569/05/405085/5, 01 (một) màu xanh, số imei 353198/05/347031/1 thu giữ trong người bị cáo tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án đối với bị cáo.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị của người bào chữa cho bị cáo; chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo G phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 4, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 35 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo G 17 (mười bảy) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 26/9/2019.

Phạt bổ sung bị cáo G số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) sung Ngân sách Nhà nước.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư được niêm phong có chữ ký của Giám định viên Nguyễn Thị Tuyết Mai, trợ lý giám định Nguyễn Văn Đại và dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, khối lượng còn lại sau khi giám định bên trong gồm có (kí hiệu M) là loại Methamphetamine, khối lượng 98,2070 gam, theo Kết luận giám định số 1462/KL-KTHS ngày 28/9/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh; 01 (một) quẹt gas bằng kim loại màu tím, đã qua sử dụng; 01 (một) vỏ bao sửa hiệu Vinamilk, loại 220 ml, bị rách một đường ở mặt sau; 02 (hai) bịch nylon loại bóp miệng có sọc màu xanh; 01 (một) đoạn ống hút màu đỏ sọc trắng, một đầu bị cắt xéo

- Tạm giữ số tiền Việt Nam 8.300.000 đồng (tám triệu ba trăm nghìn đồng); 02 (hai) điện thoại di động hiệu Nokia, đã qua sử dung: 01 (một) màu đen, số imei 354569/05/405085/5; 01 (một) màu xanh, số imei 353198/05/347031/1 thu giữ của bị cáo để đảm bảo thi hành án.

3. Về án phí: Bị cáo G phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

5. Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Cỡ chữ