- Tranh chấp gì? án hình sự — "Chứa mại dâm - phạm tội chứa mại dâm (điều 327 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 1.
- Căn cứ chính? Điều 327 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2020/HS-ST Ngày: 13-3-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Tâm
- Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Xuân Trúc
Ông Bùi Đức Hạnh
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Hồng Nhung – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Ý Yên tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Diệu Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 3 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 04/2020/TLST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2020/QĐXXST-HS, ngày 25 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Thị M – sinh năm 1962 tại thành phố Ninh Bình tỉnh Ninh Bình; Nơi ĐKNKTT: Phường Nam Thành, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình; Chỗ ở: Thôn Dinh Tần, xã Yên Bằng, huyện Ý Yªn, tØnh Nam §Þnh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/10; tôn giáo: không; giới tính: nữ; con ông: Vũ Văn Hấp (đã chết) và bµ Bùi Thị Đông sinh năm 1936 tró t¹i phường Nam Thành thành phố Ninh Bình tỉnh Ninh Bình. Gia đình có 09 anh chị em, bị cáo là con thứ 4; chồng là Vũ Ngọc Lân (đã ly hôn) và 04 con, lín sinh n¨m 1981, nhá nhất sinh n¨m 1997 cùng trú tại Khu 3, phường Đại Phúc, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình; tiền sự: không
Tiền án: Ngày 26/9/2001 bị tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xử phạt 08 năm tù giam và phạt tiền 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng về tội “Chứa mại dâm”. Ngày 30/04/2005 chấp hành xong hình phạt tù, còn phải chấp hành khoản tiền phạt 12.250.000 đồng. Chưa được xóa án tích.
Nhân thân: Ngày 11/12/2013 bị Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 05 năm tù về tội: Môi giới mại dâm. Ngày 26/4/2017 chấp hành xong hình phạt, đã được xóa án tích.
Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/11/2019 đến ngày 16/11/2019 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nam Định.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Vì Thị Lương – SN 1999
Địa chỉ: Thôn Pate, xã Túc Đán, huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái
+ Người làm chứng:
- Anh Trần Văn San - Sinh năm 1981
Địa chỉ: Xóm 10 - Đại An, xã Nam Thắng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định.
- Anh Đặng Đức Luân - Sinh năm 1981
Địa chỉ: Tổ 5, phường Lộc Hòa, thành phố Nam Địnhm tỉnh Nam Định.
- Ông Phạm Chí Linh - Sinh năm 1966
Địa chỉ: Xóm Tâm, xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
- Anh Nguyễn Văn Toàn - Sinh năm 1983
Địa chỉ: Thôn Giáp Ba, xã Quang Trung, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định
Bị cáo có mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vũ Thị M thuê lại nhà của bà Trần Thị Hải tại thôn Dinh Tần, xã Yên Bằng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định để ở và kinh doanh cà phê.
Khoảng 09 giờ ngày 07/11/2019, Trần Văn San cùng Đặng Đức Luân đến quán Nam Hải để mua dâm thì gặp M, Luân hỏi: Có gái bán dâm không? M chỉ vào Vì Thị Lương đang nằm ngủ tại ghế phòng khách nói: “Nhà chỉ có mỗi đứa này thôi”. Luân và San thỏa thuận San mua dâm trước. San đến hỏi M: Giá cả thế nào. M nói: 200.000 đồng/ 01 người/ 01 lần mua dâm. San lấy 500.000 đồng đưa cho M để trả tiền nước và tiền mua dâm của San và Luân. M bảo Lương dẫn San lên phòng để thực hiện hành vi mua bán dâm.
Đến khoảng 09 giờ 30 phút, tổ công tác của phòng cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội – Công an tỉnh Nam Định tiến hành kiểm tra hành chính quán cà phê Nam Hải thì phát hiện bắt quả tang San và Lương đang thực hiện hành vi mua bán dâm tại phòng nghỉ của quán. Tiến hành thu giữ tại phòng San và Lương 01 bao cao su đã quan sử dụng, thu giữ của M 500.000 đồng là tiền M thu của San, thu của Vì Thị Lương 100.000 đồng, Lương khai nhận là tiền M đưa khi Lương bán dâm cho 01 khách trước San. Và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Cơ quan CSĐT Công an huyện Ý Yên đã ra lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của M tại quán cà phê Nam Hải thu giữ: tại phòng ngủ của M 01 Căn cước công dân tên Vũ Thị M, 01 hợp đồng thuê nhà, 01 biên bản bàn giao tài sản, 17 bao cao su chưa qua sử dụng và số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng.
Quá trình điều tra M khai nhận: Vào ngày 06/11/2019 M sắp xếp cho Lương bán dâm cho 05 lượt khách tại quán cà phê Nam Hải, M trực tiếp thu tiền của khách và đưa cho Lương 500.000 đồng, còn M hưởng lợi 500.000 đồng. Và sáng ngày 07/11/2019 có sắp xếp cho Lương bán dâm cho 01 lượt khách tại quán cà phê Nam Hải, M thu lợi 100.000 đồng, đưa cho Lương 100.000 đồng.
Vì Thị Lương khai nhận ngày 06/11/2019 có nhận của M 500.000 đồng để bán dâm cho 5 lượt khách. Số tiền này Lương đã sử dụng hết. Và trước khi bán dâm cho San sáng 07/11/2019 M có đưa cho Lương 100.000 đồng là tiền đã bán dâm cho 01 khách trước đó. Đề nghị truy thu 500.000 đồng của Lương để sung quỹ nhà nước.
Tại cơ quan điều tra bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Đối với Vì Thị Lương là đối tượng bán dâm; Trần Văn San, Đặng Đức Luân là người mua dâm. Căn cứ vào hành vi vi phạm, cơ quan CSĐT Công an huyện Ý Yên ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lương, Luân, San.
Đối với các đối tượng mua dâm trong ngày 06/11/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ý Yên không xác định được tên tuổi nên không có căn cứ xử lý.
Đối với bà Trần Thị Hải không biết việc M thuê nhà mình để làm địa điểm mua bán dâm, không hưởng lợi do M chứa mại dâm mà có nên bà Hải không đồng phạm với M về tội: Chứa mại dâm.
Đối với 01 Căn cước công dân tên Vũ Thị M, 01 hợp đồng thuê nhà, 01 biên bản bàn giao tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, Cơ quan CSĐT xác định không phải là vật chứng của vụ án nên đã trả cho chủ sở hữu.
Về vật chứng vụ án, tài sản đã thu giữ:
Thu của bị cáo tổng số 5.500.000 đồng. Bị cáo tự nguyện giao tiền thu lời bất chính từ hoạt động mua bán dâm tại quán cà phê Nam Hải trong hai ngày 06, 07/11/2019 tổng là 1.000.000 đồng. Số tiền còn lại 4.500.000 đồng trong đó có 100.000đồng tiền bán nước là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội; Thu của Vì Thị Lương 100.000đồng là tiền thu lợi bất chính, đề nghị tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước.
Bản cáo trạng số 07/CT-VKS.YY ngày 20 tháng 01 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định truy tố Vũ Thị M về tội "Chứa mại dâm” theo điểm c, h Khoản 2 Điều 327 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vũ Thị M phạm tội "Chứa mại dâm”. Áp dụng Điểm c, h Khoản 2 Điều 327; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 1.000.000 đồng của Vũ Thị M do phạm tội mà có, của Lương 100.000đồng tiền thu lời bất chính. Tịch thu tiêu hủy 01 bao cao su đã qua sử dụng, 17 bao cao su chưa qua sử dụng. Tuyên trả lại Vũ Thị M số tiền 4.500.000 đồng là tài sản của bị cáo. Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/02/2020 giữa Công an huyện Ý Yên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ý Yên. Đề nghị truy thu của Vì Thị Lương số tiền 500.000đồng là tiền thu lợi bất chính mà có.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ý Yên tỉnh Nam Định, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong việc khởi tố và truy tố. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng và các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 07/11/2019, tại quán cà phê Nam Hải, Vũ Thị M có hành vi bố trí, sắp xếp cho Vi Thị Lương thực hiện hành vi mua bán dâm với Trần Văn San thì bị của phòng cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội – Công an tỉnh Nam Định phát hiện bắt quả tang. M còn khai nhận đã sắp xếp cho Lương bán dâm cho 06 lượt khách trong ngày 06 và sáng ngày 07/11/2019 tại quán cà phê Nam Hải, thu lợi 600.000 đồng
Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, xâm phạm đến đạo đức xã hội, nếp sống văn minh xã hội chủ nghĩa. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là rất nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố tình tình thực hiện.
Tại Bản án số 65/2001/HSST ngày 13/9/2001 Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình đã xử phạt Vũ Thị M 08 năm tù và phạt tiền 15.000.000 đồng sung quỹ nhà nước. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 30/4/2005. Và khoản tiền phạt đã thi hành 2.750.000 đồng, còn phải thi hành khoản tiền phạt là 12.250.000đồng, bị cáo chưa thi hành xong. Bị cáo chưa được xóa án tích về tội phạm rất nghiêm trọng nhưng lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý. Vì vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Chứa mại dâm" tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm c, h Khoản 2 Điều 327 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng pháp luật.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Ngày 11/12/2013 bị Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 05 năm tù về tội: Môi giới mại dâm. Ngày 26/4/2017 chấp hành xong hình phạt, đã được xóa án tích.
Căn cứ vào tình chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo M đã từng bị Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xử phạt 08 năm tù về tội: Chứa mại dâm, bị Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 05 năm tù về tội: Mối giới mại dâm. Bị cáo không lấy đó là bài học cho bản thân mà sau mỗi lần chấp hành xong hình phạt, bị cáo lại thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo khỏi môi trường xã hội một thời gian nhất định để cải tạo bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với Vi Thị Lương là đối tượng bán dâm; Trần Văn San, Đặng Đức Luân là người mua dâm. Căn cứ vào hành vi vi phạm, cơ quan CSĐT Công an huyện Ý Yên ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lương, San, Luân là phù hợp.
Đối với bà Trần Thị Hải không biết M thu tiền của khách đến mua dâm rồi bố trí, sắp xếp cho nhân viên nữ bán dâm cho khách tại quán cà phê của mình. Cơ quan điều tra xác định bà Hải không đồng phạm với M về tội Chứa mại dâm là hợp lý.
Về xử lý vật chứng: Theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Cần tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 1.000.000 đồng do bị cáo phạm tội mà có, của Vì Thị Lương 100.000đồng là tiền thu lời bất chính; Tịch thu tiêu hủy 01 bao cao su đã qua sử dụng, 17 bao cao su chưa qua sử dụng. Tuyên trả lại Vũ Thị M số tiền 4.500.000 đồng là tài sản của bị cáo. Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/02/2020 giữa Công an huyện Ý Yên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ý Yên.
Trong ngày 06/11/2019 Vì Thị Lương đã bán dâm cho khách và hưởng số tiền 500.000đồng, đây là tiền thu lợi bất chính mà có. Nên Hội đồng xét xử xét thấy cần truy thu của Lương số tiền này để sung quỹ Nhà nước.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ Điểm c, h Khoản 2 Điều 327; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Vũ Thị M phạm tội “Chứa mại dâm”. Xử phạt bị cáo Vũ Thị M 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 07/11/2019.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 1.000.000 đồng do bị cáo Vũ Thị M phạm tội mà có, của Vì Thị Lương số tiền 100.000đồng là tiền thu lời bất chính; Tịch thu tiêu hủy 01 bao cao su đã qua sử dụng, 17 bao cao su chưa qua sử dụng. Tuyên trả lại Vũ Thị M số tiền 4.500.000 đồng là tài sản của bị cáo. Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 13/02/2020 giữa Công an huyện Ý Yên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ý Yên.
Truy thu sung quỹ Nhà nước của Vì Thị Lương số tiền thu lợi bất chính 500.000đồng.
3. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Vũ Thị M phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh: 01 bản; - VKSND tỉnh + huyện: 02 bản; - Công an huyện: 01 bản; - Phòng lưu trữ CA tỉnh Nam Định: 01 bản; - Chi cục THADS huyện Ý Yên : 01 bản; - UBND phường Nam Thành, thành phố Ninh Bình: 01bản; - Bị cáo: 01 bản; - Hồ sơ vụ án: 02 bản; - Lưu: VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHIÊN TÒA | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà (đã ký) Nguyễn Thị Minh Tâm Nguyễn Thị Minh Tâm THẨM PHÁN - CHỦ TỌA Vũ Tiến Mãn |