- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Văn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2020/HS-ST Ngày: 04 - 5 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Chủng.
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Đào Văn Rạng.
Ông Lê Văn Chỉnh.
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Quang Hải – Thư ký Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng tham gia phiên toà: Ông Trần Thế Hùng – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 5 năm 2020 tại Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2020/TLST- HS ngày 15 tháng 01 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2020/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2020 đối với:
* Bị cáo: Bùi Văn K - Sinh năm 1981 tại tỉnh Nam Định.
Nơi cư trú: Xóm 5, xã M, huyện N, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam;
dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn:
7/12; giới tính: Nam; con ông Bùi Văn T, sinh năm 1952 và bà Bùi Thị V, sinh
năm 1952, cả hai đều làm ruộng tại xóm 5, xã M, huyện N; có vợ là Nguyễn Thị
H, sinh năm 1982, hiện làm công nhân; có 03 con: Con lớn nhất sinh năm 2001,
con nhỏ nhất sinh năm 2009. Tiền sự, tiền án: Không
Bị cáo Bùi Văn K bị giam, giữ từ ngày 14/12/2019 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Nghĩa Hưng cho đến nay; có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trần Thị Ngọc – Trợ giúp viên pháp lý, trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nam Định; có mặt.
* Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1991; địa chỉ: Xóm 16, xã T, huyện N, tỉnh Nam Định; vắng mặt.
2. Ông Dương Văn T, sinh năm 1954; địa chỉ: Xóm 5, xã M, huyện N, tỉnh Nam Định; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15 giờ 45 phút, ngày 14/12/2019, tại khu vực đường dong thuộc xóm 5, xã M, huyện N, tổ công tác Công an huyện Nghĩa Hưng phát hiện bắt quả tang Bùi Văn K đang có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Văn H. Thu giữ của Nguyễn Văn H 01 gói nhỏ, vỏ gói là giấy màu trắng bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng (niêm phong ký hiệu M), H khai nhận đó là Heroine H vừa mua của Bùi Văn K với giá 200.000 đồng; thu giữ của Bùi Văn K số tiền 200.000 đồng, gồm 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng; có số sơri lần lượt là: WE 18973xxx, KQ 16617xxx, K khai nhận đó là tiền vừa bán 01 gói Heroine cho H mà có. Ngoài ra còn tạm giữ của K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, đã cũ, có số thuê bao 0363.xxxxxx và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vertu màu đen, đã cũ, có số thuê bao 0974.xxxxxx. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Bùi Văn K: thu giữ trong bao thuốc lá Thăng Long để trên bàn uống nước, trong phòng khách có 01 gói nhỏ, vỏ gói là giấy màu vàng, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng (niêm phong ký hiệu K.
Tại bản kết luận giám định số 1139/GĐKTHS ngày 16/12/2019 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định, kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 02 phong bì được niêm phong ký hiệu M và K gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Khối lượng mẫu M: 0,082 gam; Khối lượng mẫu K: 0,060 gam.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nghĩa Hưng, Bùi Văn K đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và khai nhận: Khoảng 12 giờ ngày 14/12/2019, K đi nhờ xe máy người đi đường lên khu vực ngã ba đường Đen, thuộc thôn x, xã Đ, huyện T, tỉnh Nam Định mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ 01 gói ma túy với giá 300.000 đồng. Về nhà, Bùi Văn K đã lấy ra một ít để sử dụng; số còn lại K chia thành 02 gói nhỏ, mục đích để bán kiếm lời. Đến khoảng 15 giờ 15 phút ngày 14/12/2019, H điện thoại cho K để hỏi mua ma túy. K đồng ý và hẹn H đến đường dong xóm 5, xã M để giao dịch. Khoảng 15 giờ 45 phút cùng ngày, K đi bộ ra chỗ hẹn gặp H. Khi K và H đang mua bán ma tuý thì bị bắt quả tang.
Bản cáo trạng số 07/CT-VKS ngày 14/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng đã truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà hôm nay Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo như tội danh và điều luật đã nêu. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Bùi Văn K từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ Đối với 01 phong bì niêm phong số 1139/GĐKTHS ngày 16/12/2019 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định hoàn trả sau giám định; Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 200.000 đồng (gồm 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng; có số seri lần lượt là: WE 18973xxx, KQ 16617xxx); tịch thu hoá giá sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen, đã qua sử dụng, lắp sim có số thuê bao là 0363.xxxxxx; trả lại cho Bùi Văn K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vertu màu đen, đã cũ, lắp sim có số thuê bao 0974xxxxxx; đề nghị áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 6; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc để tuyên án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo có ý kiến: Nhất trí với tội danh và khung hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị; bị cáo khai báo thành khẩn, đã ăn năn hối lỗi và có bố đẻ là ông Bùi Văn T được huy chương chiến sỹ giải phóng nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được mức án thấp nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Tại phiên toà hôm nay qua xét hỏi và tranh luận bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nghĩa Hưng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; người làm chứng không có khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về định tội: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu đã được xác lập có trong hồ sơ vụ án cũng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng đã truy tố bị cáo ra trước phiên toà hôm nay. Như vậy đã đủ cơ sở xác định: Khoảng 15 giờ 45 phút, ngày 14/12/2019, tại khu vực đường dong thuộc xóm 5, xã Nghĩa Minh, huyện Nghĩa Hưng, tổ công tác Công an huyện Nghĩa Hưng phát hiện bắt quả tang Bùi Văn K đang có hành vi bán trái phép 0,082 gam Heroine cho Nguyễn Văn H với giá 200.000 đồng thì bị bắt giữ và có hành vi tàng trữ 0,060 gam Heroine nhằm mục đích bán kiếm lời. Tổng khối lượng Heroine Bùi Văn K có hành vi mua bán trái phép là 0,142 gam. Đối chiếu với Bộ luật hình sự thấy đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Hành vi đó của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý của nhà nước về các chất ma tuý, làm mất trật tự trị an, an toàn xã hội trong khu vực, ảnh hưởng đến nếp sống văn hoá của dân tộc. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng cố ý thực hiện. Vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử công khai, lên án xử lý nghiêm minh là cần thiết nhằm góp phần vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo là người có nhân thân tốt. Trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bố của bị cáo là ông Bùi Văn T được huy chương chiến sỹ giải phóng, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, tập chung cải tạo đối với bị cáo nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 phong bì niêm phong số 1139/GĐKTHS ngày 16/12/2019 (bên trong có 0,043 gam mẫu M và 0,022 gam mẫu K cùng vỏ bao gói mẫu M và K) của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định hoàn trả sau giám định, cần tịch thu tiêu huỷ; Số tiền 200.000 đồng (gồm 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng; có số sơri lần lượt là: WE 1897xxx, KQ 16617xxx), cần tịch thu sung quỹ nhà nước. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen, đã qua sử dụng, lắp sim có số thuê bao là 0363.xxxxxx và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vertu màu đen, đã cũ, lắp sim có số thuê bao 0974.xxxxxx thu giữ của Bùi Văn K, cần tịch thu hoá giá sung quỹ nhà nước.
Đối với Nguyễn Văn H là người nghiện ma túy, có hành vi mua ma tuý của Bùi Văn K về để sử dụng, nhưng số lượng nhỏ chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Công an huyện Nghĩa Hưng đã ra Quyết định xử lý hành chính đối với Nguyễn Văn H là phù hợp.
Đối với người đàn ông bán heroine cho Bùi Văn K ngày 14/12/2019, hiện chưa xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nghĩa Hưng tiếp tục điều tra xử lý sau.
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng là phù hợp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cứ Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
1. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”;
2. Xử phạt bị cáo Bùi Văn K 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/12/2019.
3. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 1139/GĐKTHS ngày 16/12/2019 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định hoàn trả sau giám định.
Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 200.000 đồng (gồm 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng; có số sơri lần lượt là: WE 18973xxx, KQ 16617xxx).
Tịch thu hoá giá sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ màu đen, đã qua sử dụng, lắp sim có số thuê bao là 0363.xxxxxx.
Trả lại cho Bùi Văn K 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vertu màu đen, đã cũ, lắp sim có số thuê bao 0974.xxxxxx, nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.
Vật chứng của vụ án đang được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghĩa Hưng theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Nghĩa Hưng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Nghĩa Hưng lập ngày 15/01/2020.
4. Án phí: Buộc bị cáo Bùi Văn K phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án và người được thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND huyện Nghĩa Hưng; - Trại giam + CA; - Bị cáo. - UBND xã M; - Cơ quan Thi hành án; - Án văn + lưu hồ sơ; HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM HỘI THẨM NHÂN DÂN Đào Văn Rạng Lê Văn Chỉnh | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Văn Chủng THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Văn Chủng |