vanban.org

Bản án 14/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An Tuyên án 28/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo N Đ Tr phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo N Đ Tr 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (Hai tư) tháng. Thời gian thử thách của bị cáo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo N Đ Tr cho Uỷ ban nhân dân… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015) - phạm tội vi phạm quy định về th…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo N Đ Tr phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƯNG NGUYÊN
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14 /2020/HS-ST
Ngày 28-4-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Quốc Tú;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Đường;

2. Ông Trần Văn Hải;

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Oanh, Thư ký Toà án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Lê Cường, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2020, tại Hội trường Toà án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2020/TLST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2020 về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2020/ QĐXXST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: N Đ Tr, tên gọi khác: không; sinh ngày 02 tháng 12 năm 1969 tại xã H N, H V, thành phố Đà Nẵng. Nơi cư trú: Thôn Phú Hòa 1, xã H N, H V, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: N Đ T- Đã chết và bà N T C; Sinh năm 1947; Vợ: N T N; Sinh năm 1972, con: Có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 1992, con nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên toà.

- Người bị hại: Bà N T H- đã chết.

- Người đại diện hợp pháp của Người bị hại: Ông V Đ Đ; sinh năm 1965; Địa chỉ: Xóm Bắc K G 3, xã H T, huyện H N, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên toà.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH C N; Địa chỉ: số 06, Phường H H T, Tp Q N, tỉnh Quảng Ngãi.

Người đại diện theo pháp luật: Ông N Q K; sinh năm 1984; địa chỉ: xóm 13, thôn P L, xã P K, huyện Đ P, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt tại phiên toà, có đơn yêu cầu xử vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Ông N Q K; sinh năm 1984; địa chỉ: xóm 13, thôn P L, xã P K, huyện Đ P, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt tại phiên toà – có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Ông P H H; sinh năm: 1977; địa chỉ: Tổ 4, xã H K, huyện H V, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 19 giờ 15 phút ngày 06/8/2019, N Đ Tr (Có giấy phép lái xe ô tô hạng E) điều khiển xe ô tô khách, biển kiểm soát 76B- 012.12 của Công ty TNHH C N, địa chỉ ở đường H H T, Tp Q N, tỉnh Quảng Ngãi chở anh N Q K và anh P H H cùng với 19 hành khách khác đi trên đường Quốc lộ 1A, tránh Vinh theo hướng từ Hà Nội vào Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đi đến KM10+ 310 thuộc địa phận xóm Bắc kẻ Gai 2, xã Hưng Tây, huyện Hưng Nguyên, N Đ Tr phát hiện xe mô tô Biển kiểm soát 37B1- 905.41 do chị Đào Thị Hảo điều khiển đi phía trước cùng chiều bên phải, cách đầu xe ô tô BKS 76B- 012.12 khoảng 40 mét. Lúc này, N Đ Tr điều khiển xe ô tô với tốc độ khoảng 80 km/h, quan sát thấy không có xe đi ngược chiều nên Trước bấm còi xe và đánh lái đi sang bên trái làn đường hướng ngược chiều (hướng TP. Hồ Chí Minh - Hà Nội), lúc này lốp xe ô tô bên trái nằm ở phần đường ngược chiều. Khi đầu xe ô tô đi đến cách phía sau đuôi xe mô tô khoảng 15 mét thì chị Hảo điều khiển xe mô tô 37B1- 905.41 rẽ trái. Ngay lúc này, N Đ Tr đánh lái cho xe ô tô 76B- 012.12 sang trái phía trước đầu xe mô tô của chị Hảo để tránh nhưng sợ bị lật xe ô tô nên Trước tiếp tục đánh lái xe ô tô sang bên phải làm cho phía trước bên phải đầu xe ô tô 76B- 012.12 đã đâm vào bên trái xe mô tô 37B1- 905.41, làm xe mô tô và chị Hảo ngã trượt ra đường rẽ phía trước làn đường bên phải. Hậu quả: Chị Đào Thị Hảo chết tại chỗ, xe ô tô 76B- 012.12 và xe mô tô 37B1- 905.41 bị hư hỏng nhẹ.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 259/KL- PC09 (PY) ngày 14/8/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận nạn nhân Đào Thị Hảo tử vong do vỡ, sập xương hộp sọ; xuất huyết bão, gãy xương cánh tay trái do chấn thương.

Tại Bản kết luận số 257/KLGĐ-PC09(DVCH) ngày 20/8/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Ngay trước thời điểm xẩy ra tai nạn xe ô tô biển kiểm soát 76B- 012.12 di chuyển trên đường Quốc lộ 1A đoạn tránh TP Vinh theo hướng từ Hà Nội đi thành phố Hồ Chí Minh (hướng Bắc – Nam), xe mô tô 37B1- 905.41 di chuyển theo hướng từ phải sang trái, từ sau ra trước so với hướng di chuyển của xe ô tô BKS 76B- 012.12. Vị trí va chạm đầu tiên giữa xe ô tô BKS 76B- 012.12 và xe mô tô BKS 37B1- 905.41. Trên hiện trường: ở phần đường bên trái đường Quốc lộ 1A đoạn tránh TP Vinh theo hướng từ Hà Nội đi Thành phố Hồ Chí Minh; Trên phương tiện: Trên xe ô tô BKS 76B- 012.12 là ở mặt trước bên phải đầu xe, trên xe mô tô 37B1- 905.41 là ở phía bên trái xe. Không đủ cơ sở xác định tốc độ của xe ô tô BKS 76B-012.12 và xe mô tô 37B1- 905.41 ngay trước thời điểm xẩy ra tai nạn.

Đã đo nồng độ cồn, test ma túy của N Đ Tr: Không có nồng độ cồn và chất ma túy.

Tại Bản kết luận biện luận số 31/CV-KTHS ngày 10/2/2020 của Phòng kỹ thuật công an tỉnh Nghệ An có nôi dung: Trên hiện trường phát hiện vết cày xước mặt đường nhựa không liên tục dài 21,5m. hướng Đông Bắc- Tây Nam, điểm đầu cách mép đường phía bên trái theo hướng TP Hà Nội đi TP Hồ Chí Minh là 4,75m (tức là cách vạch tâm đường 0,8m). Nghiên cứu ảnh hiện trường thấy: Vùng dấu vết cày là 2 vết song song và cách nhau khoảng 14cm, vết cày tương đối sâu, vùng cuối vết cày là 2 vết song song nhau kết thúc tại bàn đạp chân phanh và giá để chân trước bên phải xe mô tô BKS 37B1- 905.41 do đó 2 vết song song ở vùng đầu vết cày là do bàn đạp chân phanh và giá để chân trước bên phải xe mô tô BKS 31B1- 905.41 để lại, như vậy tại thời điểm để lại vết cày thì từ phần giá để chân trước bên phải xe mô tô BKS 37B1- 905.41 trở về trước đã hoàn toàn trên phần đường bên trái theo chiều hướng TP Hà Nội đi TP Hồ Chí Minh và cách tâm đường là 0,8m. Mà vị trí va chạm trên xe ô tô BKS 76B- 012.12 là mặt trước bên phải đầu xe và trên xe mô tô 37B1- 905.41 là từ giá để chân trước bên trái về phía trước. Vì vậy, khi xảy ra va chạm giữa xe ô tô BKS 76B- 012.12 với xe mô tô 37B1- 905.41 thì toàn bộ đầu xe ô tô đã ở bên phần đường bên trái theo chiều hướng TP Hà Nội đi TP Hồ Chí Minh.

Dấu vết trên hai phương tiện: Trên xe ô tô BKS 76B- 012.12: Mặt trước bên phải đầu xe có vùng dấu vết trượt xước, nứt vỡ, thủng các bộ phận của xe theo chiều hướng từ trước ra sau, từ trái sang phải. Trên xe mô tô BKS 37B1- 905.41: Phía bên tráu xe từ bánh trước đến phần nắp máy và giá để chân trước có vùng dấu vết trượt xước, nứt vỡ, móp lõm các bộ phận của xe theo chiều hướng từ trái qua phải. Căn cứ vào các dấu vết va chạm trên xe ô tô BKS 76B- 012.12 và xe mô tô BKS 37B1-905.41 thì góc độ va chạm giữa hai phương tiện khoảng 90 độ.

Khi xảy ra va chạm thì đầu xe ô tô BKS 76B- 012.12 đã ở phần đường bên trái, căn cứ vào góc độ va chạm, vị trí va chạm trên hai phương tiện, để tạo ra vết cày có chiều hướng Đông Bắc- Tây Nam như trên hiện trường thì khi va chạm vào xe mô tô BKS 37B1- 905.41 thì đầu xe ô tô BKS 76B- 012.12 phải tác dụng lực theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, hoặc hướng Bắc - Nam.

Tại bản Cáo trạng số 14/ CT-VKS-HN ngày 13 tháng 3 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An đã truy tố N Đ Tr về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ", quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện VKSND huyện Hưng Nguyên giữ quyền công tố, vẫn giữ nguyên quan điểm luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo N Đ Tr từ 12 (Mười hai) đến 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 đến 30 tháng về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ"; Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo. Về vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 đề nghị trả lại 01(Một) giấy phép lái xe ô tô hạng E số 480121009033 cho N Đ Tr. Buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng: bị cáo hối hận với hành vi phạm tội của mình, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hưng Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên tòa hôm nay, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm hiên trường vụ tai nạn giao thông vào hồi 19 giờ 45 phút ngày 06/8/2019, Biên bản khám nghiệm tử thi lập hồi 21giờ 15 phút ngày 06/8/2019, Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 259/KL- PC 09(PY) ngày 14/8/2019, Bản kết luận biện luận số 31/CV-KTHS ngày 10/2/2020, Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông hồi 8h ngày 13/8/2019, Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông hồi 9h ngày 13/8/2019, Bản kết luận giám định số 257/KLGĐ- PC 09 ngày 20/8/2019 đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 19 giờ 15 phút ngày 06/8/2019, N Đ Tr điều khiển xe ô tô BKS 76B-012.12 đi trên đường Quốc lộ 1A tránh Thành phố Vinh. Khi đi đến KM10 + 310, Quốc lộ 1A tránh Thành phố Vinh thuộc địa phận xóm Bắc Kẻ Gai 2, xã Hưng Tây, huyện Hưng Nguyên, N Đ Tr đi không đúng phần đường quy định, không làm chủ tốc độ đã đâm vào bên trái xe mô tô 37B1-905.41 do chị Đào Thị Hảo điều khiển. Hậu quả: chị Đào Thị Hảo chết tại chỗ, xe ô tô BKS 76B-012.12 và xe mô tô 37B1- 905.41 bị hư hỏng nhẹ.

Hành vi của N Đ Tr đã vi phạm khoản 1 Điều 9 của Luật giao thông đường bộ, Vi phạm khoản 23 điều 8 Luật giao thông đường bộ gây hậu quả làm chết một người. Do đó, có đủ căn cứ để xác định bị cáo N Đ Tr đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 điều 260 Bộ luật hình sự như Cáo trạng truy tố.

. Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng. Khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông bị cáo đã không chấp hành đúng quy định của Luật giao thông đường bộ gây tai nạn. Hậu quả làm cho 01 người chết. Làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn và ý thức tham gia giao thông của Toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, Sau khi xảy ra tai nạn bị cáo đã cùng gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại số tiền 170.000.000 đồng. Đại diện gia đình người bị hại cũng đã có đơn xin miễn truy cứu TNHS cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xét bị cáo phạm lỗi do vô ý, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cần xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi quyết định hình phạt để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Xét bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly các bị cáo mà cải tạo, giáo dục bị cáo tại địa phương cũng đủ nghiêm.

. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, theo biên bản xác minh ngày 16 tháng 9 năm 2019 của cơ quan công an huyện Hưng Nguyên và lời khai tại phiên tòa cho thấy bản thân Trước không có tài sản gì có giá trị, Trước lái xe theo hợp đồng lao động, Lái xe là nghề nghiệp chính. bị cáo đã không hành nghề lái xe kể từ khi gây tai nạn cho đến thời điểm hiện nay. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: 01 (Một) giấy phép lái xe ô tô hạng E số 480121009033 mang tên N Đ Tr (sinh năm 1969, trú tại Hòa Nhơn, Hòa Vang, Đà Nẵng) do Sở Giao thông vận tải thành phố Đà Nẵng cấp ngày 05/5/2015 có giá trị đến 05/5/2020 được chuyển theo hồ sơ vụ án. Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 trả lại cho cho bị cáo N Đ Tr.

. Về Phần dân sự: N Đ Tr và chủ phương tiện đã đền bù tiền mai táng, tiền tổn thất tinh thần cho gia đình bị hại Đào Thị Hảo số tiền 170.000.000 đồng. Hiện nay, gia đình chị Đào Thị Hảo không có yêu cầu gì thêm về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với thiệt hại tài sản là chiếc xe ô tô BKS 76B- 012.12, xe mô tô 37B1- 905.41 thì Công ty TNHH C N và gia đình chị Đào Thị Hảo không yêu cầu định giá thiệt hại tài sản và không yêu cầu đền bù dân sự nên nên Hội đồng xét xử không xem xét.

. Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: bị cáo N Đ Tr phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo N Đ Tr 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (Hai tư) tháng. Thời gian thử thách của bị cáo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo N Đ Tr cho Uỷ ban nhân dân xã H N, H V, thành phố Đà Nẵng có trách nhiệm phối hợp với gia đình bị cáo giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Trước cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án Hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 trả lại cho cho bị cáo N Đ Tr 01 (Một) giấy phép lái xe ô tô hạng E số 480121009033 mang tên N Đ Tr (sinh năm 1969, trú tại Hòa Nhơn, Hòa Vang, Đà Nẵng) do Sở Giao thông vận tải thành phố Đà Nẵng cấp ngày 05/5/2015 có giá trị đến 05/5/2020.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc các bị cáo N Đ Tr phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người đại diện hợp pháp của Người bị hại có mặt có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày niêm yết hoặc nhận được bản sao bản án.

Cỡ chữ