- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Ngọc Duy Q - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc Duy Q phạm tội : “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Nghị định số 73/2018/NĐ-CP Quy định các danh mục chất ma túy…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH – LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2020/HS-ST Ngày 07/5/2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH – TỈNH LÂM ĐỒNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông K’My Na
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Ngọc Hà; bà Trần Thị Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Giáp Thị Thu Ly – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông K’ Dem - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2020/TLST-HS ngày 26- 02-2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2020/HSST-QĐ ngày 10-3-2020, Thông báo hoãn phiên tòa số 05/2020/TB-TA ngày 01-4-2020 và thông báo mở phiên tòa xét xử vụ án hình sự số 01/2020/TB-TA ngày 20-4-2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Ngọc Duy Q (tên gọi khác: Bin); Sinh năm 1996 tại Lâm Đồng; Nơi cư trú: Tổ 4, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc H (Đã chết) và bà Lê Thị D
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt và tạm giữ ngày 27-11-2019 đến ngày 02-12-2019 chuyển sang tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Di Linh. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Ngọc Duy Q là người nghiện ma túy, sử dụng ma túy từ năm 2017 đến nay, thông qua một số người nghiện ma túy giới thiệu, Q biết một người phụ nữ tên thường gọi là Tr ở thành phố B (không rõ nhân thân lai lịch) có bán ma túy.
Ngày 24-11-2019 bị cáo xuống thành phố B liên hệ với Tr để hỏi mua ma túy với số tiền 500.000đ và được Tr đồng ý bán. Sau khi mua được ma túy bị cáo cất giấu trong người đem về nhà để sử dụng. Sáng ngày 25-11-2019 sau khi sử dụng ma túy xong, số ma túy còn lại bị cáo cất giấu trong Ví (bóp) mang trong người. Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 27-11-2019 thì Công an huyện Di Linh triệu tập bị cáo làm việc và kiểm tra thì phát hiện và thu giữ 01 gói ma túy trong Ví (bóp) để túi quần bên phải, phía sau của bị cáo đang mặc trên người.
Ngày 27-11-2019, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D ra quyết định trưng cầu giám định số 232 yêu cầu Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng giám định chất nghi là ma túy thu giữ của bị cáo Nguyễn Ngọc Duy Q.
Tại bản kết luận giám định số 1800/GĐ-PC09 ngày 29-11-2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng xác định: Mẫu tinh thể đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2936g (Không phẩy hai chín ba sáu gam), loại Methamphetamine nằm trong Danh mục II, STT: 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Tổng khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo 0,2936g ( không phẩy hai chín ba sáu gam), loại Methamphetamine.
Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D đã tiến hành thu giữ đồ vật, vật chứng của bị cáo gồm: 01 ( Một) gói nylon bên trong gói nylon chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy loại Methamphetamine thu giữ trong ví(bóp) của bị cáo đang mặc trên người tang vật được niêm phong có chữ ký ghi họ tên “ Phạm Thị D”, “ Nguyễn Văn Ch”, “ Ngô H” và hình giấu tròn màu đỏ của “ Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Lâm Đồng, bao gồm : phong bì đựng bao gói vật chứng trước giám định. Phong bì đựng mẫu lưu đối chứng ( cơ quan giám định Lưu ) 0,0749g và phong bì đựng mẫu vật chứng còn lại sau giám định. 0,1313g.
-01 (Một) điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen ( không kiểm tra chi tiết máy bên trong ) và 01 (Một) chứng minh nhân dân số : 250994409, mang tên Nguyễn Ngọc Duy Q, cấp ngày 02-8-2016; là đồ vật tài liệu không liên quan đến vụ án và cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo.
Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Ngọc Duy Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 25-02-2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc Duy Quang về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy ” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không thắc mắc khiếu nại gì về nội dung bản cáo trạng.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo cáo trạng đã công bố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 xét xử bị cáo Nguyễn Ngọc Duy Q từ 15 đến 18 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đối với chất ma túy sau giám định đề nghị tịch thu tiêu hủy
Đối tượng tên Tr là người bán ma túy cho bị cáo Q. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Di Linh chưa xác định được nhân thân lai lịch, cần tách ra tiếp tục điều tra xác minh và xử lý sau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Di Linh, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến thắc mắc hoặc khiếu nại về hành vi và các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi và các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2 Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Ngọc Duy Q đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và khai nhận: Do nghiện ma túy, ngày 24-11-2019 bị cáo xuống thành phố Bảo Lộc liên hệ với người tên Tr để hỏi mua ma túy với số tiền 500.000đ và được Tr (không rõ nhân thân lai lịch) đồng ý bán. Sau khi mua được ma túy bị cáo cất giấu ma túy trong người đem về nhà để sử dụng. Sáng ngày 25-11-2019 sau khi sử dụng ma túy xong, số ma túy còn lại bị cáo cất giấu trong Ví (bóp) mang trong người. Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 27-11-2019 Công an huyện Di Linh triệu tập bị cáo lên làm việc và kiểm tra thì phát hiện và thu giữ 01 gói ma túy trong Ví (bóp) để túi quần bên phải, phía sau của bị cáo đang mặc trên người.
Căn cứ kết luận giám định số 1800/GĐ-PC09 ngày 29-11-2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng xác định: Mẫu tinh thể đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2936g (Không phẩy hai chín ba sáu gam), loại Methamphetamine nằm trong Danh mục II, STT: 323, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Tổng khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo 0,2936g (không phẩy hai chín ba sáu gam), loại Methamphetamine.
Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo, phù hợp với các chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ đã có đủ căn cứ xét xử bị cáo Nguyễn Ngọc Duy Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đúng như tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh đã truy tố.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo đã vi phạm quy định của pháp luật về chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, trong tình hình tội phạm về ma túy và người sử dụng ma túy hiện nay có chiều hướng gia tăng, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo biết rõ Tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật và bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn có tình thực hiện vì vậy cần phải xử lý nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét cho bị cáo trong quá trình điều tra bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng: Đối với chất ma túy sau khi giám định còn lại : 01 ( Một) phong bì số 1800/2019, có ghi: Nguyễn Ngọc Duy Q (1996); HKTT: số nhà 16, Phạm Ngọc Th- TDP4, thị trấn D, D; QĐTC: 232 ngày 27/11/2019; Hoàn mẫu: 0,1313(g); Phong bì đã được niêm phong, có dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng, có chữ ký của Phạm Thị D và Nguyễn Văn Ch theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện D và Chi cục Thi hành án dân sự huyện D ngày 26 tháng 02 năm 2020. Đây là tang vật của vụ án thuộc chất cấm theo quy định pháp luật. Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với tài sản thu của bị cáo: 01 (Một) điện thoại di động hiệu NOKIA màu đen ( không kiểm tra chi tiết máy bên trong ) và 01 (Một) chứng minh nhân dân số : 250994409, mang tên Nguyễn Ngọc Duy Q, cấp ngày 02-8-2016; là đồ vật tài liệu không liên quan đến vụ án và cơ quan điều tra đã trả lại cho bị cáo là phù hợp.
Đối với đối tượng tên Trang là người bán ma túy cho bị cáo Q. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D chưa xác định được nhân thân lai lịch, cần tách ra tiếp tục điều tra xác minh và xử lý sau là phù hợp.
Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/QH14 ngày 30-12-2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Điều 106; Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
1.Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc Duy Q phạm tội : “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc Duy Q 15 ( Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27-11-2019.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy : 01 ( Một) phong bì số 1800/2019, có ghi: Nguyễn Ngọc Duy Q (1996); HKTT: số nhà 16, Phạm Ngọc Th- TDP4, thị trấn D, D; QĐTC: 232 ngày 27/11/2019; Hoàn mẫu: 0,1313(g); Phong bì đã được niêm phong, có dấu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng, có chữ ký của Phạm Thị D và Nguyễn Văn Ch theo biện bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện D và Chi cục Thi hành án dân sự huyện D ngày 26 tháng 02 năm 2020.
4.Về án phí: Bị cáo Nguyễn Ngọc Duy Quang phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện Di Linh; - Công an huyện Di Linh; - Bị cáo(để thi hành); - Sở TP tỉnh Lâm Đồng; - Chi cục THADS huyện Di Linh; - THA hình sự; Lưu hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA K’ My Na |