vanban.org

Bản án 14/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cần Giờ, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 16/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Xử phạt: Nguyễn Minh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 09/4/2020.

[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) gói được niêm phong, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Minh T, Phạm Anh Tt (Điều tra viên), Thiếu tá. Bùi Văn Giang (P. Trưởng CAX), hình … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Xử phạt: Nguyễn Minh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 09/4/2020.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN X
THÀNH PHỐ Y

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2020/HS-ST
Ngày: 16-6-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ, THÀNH PHỐ Y

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thụ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Nga.

2. Ông Trương Văn Lộc.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện X, Thành phố Y.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện X, Thành phố Y tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Thủy – Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Y xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 17/2020/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 18/2020/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Minh Xh ngày 08/3/2000 tại thành phố Y; Hộ khẩu thường trú: Số 280, Tổ 16, ấp Bình Trung, xã B, huyện X, thành phố Y; Chỗ ở: Như trên; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 08/12; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn Dũng, sinh năm: 1980 và bà Dương Ngọc Hương, sinh năm: 1980; Anh, chị, em ruột có 1 người, sinh năm: 1997; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 01/3/2018 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an xã B xử phạt hành chính số tiền 375.000 đồng; Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 09/4/2020 đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 09/4/2020, do có nhu cầu sử dụng ma túy, Nguyễn Minh T từ nhà tại số 280, tổ 16, ấp Bình Trung, xã B, huyện X, Thành phố Y điều khiển xe gắn máy biển số: 59Z2-126.75 đi đến ngã ba Bờ Băng thuộc xã Phú Xuân, huyện N, Thành phố Y gặp một người đàn ông chạy xe ôm đang đậu xe trên lề đường hỏi mua ma túy đá với số tiền 300.000 đồng được 02 gói ma túy đá. Sau khi mua ma túy xong, T bỏ 02 gói ma túy vào vỏ bao thuốc lá hiệu Jet, giấu vào trong túi quần đồng thời điều khiển xe quay về xã Bình Khánh. Đến khoảng 16 giờ 15 phút cùng ngày, khi T đang lưu thông trên tuyến đường bê tông thuộc Tổ 12, ấp Bình Trung, xã Bình Khánh, huyện X, Thành phố Y thì bị lực lượng công an kiểm tra, bắt quả tang T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ một sô vật chứng có liên quan.

Cùng ngày 09/4/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cần Giờ đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của T tại địa chỉ Số 280, Tổ 16, ấp Bình Trung, xã B, huyện X, Thành phố Y thu được một số vật chứng liên quan đến hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của T.

Qua làm việc với Cơ quan điều tra, T khai nhận người bán ma túy cho T vào ngày 09/4/2020 là một người đàn ông, không biết tên, địa chỉ, làm nghề chạy xe ôm, thường gặp mua ma túy ở ngoài đường tại ngã ba Bờ Băng, thuộc xã Phú Xuân, huyện N, Thành phố Y. T đã mua ma túy của người đàn ông trên 03 lần mỗi lần với số tiền 300.000 đồng, loại ma túy đá, mục đích là để sử dụng.

Tại bản Kết luận giám định số 596/KLGH-H ngày 17/4/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Y kết luận: tinh thể không màu trong 02 gói ny lon là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng là 0,2585 gam, loại Methamphetamine.

Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) gói được niêm phong, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Minh T, Phạm Anh Thiệt (Điều tra viên), Thiếu tá. Bùi Văn Giang (P. Trưởng CAX), hình dấu Công an xã B, huyện X bên trong có 02 (hai) gói nylon nên trong chứa tinh thể không màu, là ma túy đá ở thể rắn có khối lượng 0,2585 gam, loại Methamphetamine (khối lượng còn lại sau khi phục vụ giám định còn lại 0,1607gam); 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet, đã qua sử dụng; 01 bình nhựa tự chế trên nắp có khoét hai lỗ, đã qua sử dụng; 01 ống thủy tinh (nỏ), đã qua sử dụng; 01 ống nhựa màu trắng-xanh, đã qua sử dụng.

Bản cáo trạng số: 19/CT-VKS-H.CG ngày 26 tháng 5 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù.

Đối với vật chứng vụ án áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho T vào ngày 09/4/2020, qua điều tra, xác minh không xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể, Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý là có cơ sở.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trong bản Cáo trạng; nội dung phân tích, luận tội của kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa, đồng thời cho rằng mình không bị oan và trong lời nói sau cùng đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để tạo điều kiện cho bị cáo sớm hòa nhập với cộng đồng và làm người có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cần Giờ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Minh T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ thu giữ vật chứng, biên bản niêm phong vật chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa hôm nay, từ đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 15 phút, ngày 09/4/2020 tại tuyến đường bê tông thuộc Tổ 12, ấp Bình Trung, xã B, huyện X, Thành phố Y, Nguyễn Minh T đã có hành vi cất giấu trái phép trong người 02 gói nylon bên trong chứa ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,2585 gam.

Hành vi cất giấu (tàng trữ) ma túy (Methamphetamine) có khối lượng 0,2585 gam nhằm mục đích sử dụng của bị cáo Nguyễn Minh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo Nguyễn Minh T là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy và các chất gây nghiện, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương, đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra những tệ nạn xã hội, nhiều căn bệnh hiểm nghèo, tạo gánh nặng cho xã hội. Bị cáo nhận thức được tính nguy hiểm, trái pháp luật của hành vi mình thực hiện, nhưng vì muốn có ma túy sử dụng nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội bất chấp hậu quả và pháp luật. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự thì ngoài hình phạt chính còn quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét thấy bản thân bị cáo có điều kiện kinh tế khó khăn, không có việc làm ổn định, nên Hội đồng xét xử miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- 01 (một) gói được niêm phong, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Minh T, Phạm Anh Tt (Điều tra viên), Thiếu tá. Bùi Văn Giang (P. Trưởng CAX), hình dấu Công an xã B, huyện X bên trong có 02 (hai) gói nylon nên trong chứa tinh thể không màu, là ma túy đá ở thể rắn có khối lượng 0,2585 gam, loại Methamphetamine (khối lượng còn lại sau khi phục vụ giám định còn lại 0,1607gam) là vật cấm lưu hành xét tịch thu tiêu hủy;

- 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet, đã qua sử dụng; 01 bình nhựa tự chế trên nắp có khoét hai lỗ, đã qua sử dụng; 01 ống thủy tinh (nỏ), đã qua sử dụng; 01 ống nhựa màu trắng-xanh, đã qua sử dụng là vật không có giá trị sử dụng nghĩ nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 xe gắn máy, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen, biển số 59Z2-126.75, đã qua sử dụng. Qua xác minh được biết chủ sở hữu là bà Dương Ngọc Hương (mẹ ruột của T), bà Hương mua lại của em ruột là bà Dương Ngọc Trúc vào tháng 12/2017 với số tiền 15.000.000 đồng, chưa làm thủ tục sang tên. Ngày 09/4/2020, khi lấy xe đi T nói với bà Hương là đi mua đồ ăn, bà Hương không biết T dùng xe đi mua ma túy, do đó Cơ quan điều tra trả lại chiếc xe máy nêu trên cho bà Hương là đúng quy đinh pháp luật.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho T vào ngày 09/4/2020, qua điều tra, xác minh không xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể, Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý là có cơ sở và phù hợp với quy định pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[1] Xử phạt: Nguyễn Minh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 09/4/2020. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) gói được niêm phong, bên ngoài có các chữ ký ghi tên Nguyễn Minh T, Phạm Anh Tt (Điều tra viên), Thiếu tá. Bùi Văn Giang (P. Trưởng CAX), hình dấu Công an xã B, huyện X bên trong có 02 (hai) gói nylon nên trong chứa tinh thể không màu, là ma túy đá ở thể rắn có khối lượng 0,2585 gam, loại Methamphetamine (khối lượng còn lại sau khi phục vụ giám định còn lại 0,1607gam); 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet, đã qua sử dụng; 01 bình nhựa tự chế trên nắp có khoét hai lỗ, đã qua sử dụng; 01 ống thủy tinh (nỏ), đã qua sử dụng; 01 ống nhựa màu trắng-xanh, đã qua sử dụng.

[3] Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Nguyễn Minh T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

[4] Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Y.

[5] Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014. Nôi nhaän:

Cỡ chữ