vanban.org

Bản án 14/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh Tuyên án 17/11/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn L phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Xử phạt : Bị cáo Nông Văn L 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 27/11/2020, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn phối hợp với gia đình bị cáo, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Văn L - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn L phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH LIÊU
TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2020/HS-ST
Ngày 27-11-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH LIÊU, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Hải

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Niên

Bà Nguyễn Thị Ty

- Thư ký phiên tòa: Ông Lục Văn Biên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Phúc - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2020 tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 13/2020/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2020/QĐXXST- HS ngày 16 tháng 11 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh đối với bị cáo:

Họ và tên: Nông Văn L; Tên gọi khác: Không; sinh ngày 05/9/1993, tại huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn; Nơi cư trú: Khu 1, thị trấn N, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nông Văn Đ, sinh năm 1969 và bà Trần Thị N, sinh năm 1972; Vợ là Hoàng Thị Hoa B, sinh năm 1996; Bị cáo có 01 con sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Chưa có; Bị cáo hiện đang đang tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt.

- Người bị hại:

+ Anh Nông Văn X, sinh năm 1996; Địa chỉ: khu C, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

+ Anh Lý Xuân T, sinh năm 1996; Địa chỉ: khu N, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại Nông Văn X: ông Nông Tạt P (bố đẻ anh X) ủy quyền tham gia tố tụng cho: Anh Lài Thím C, sinh năm 1987; địa chỉ: khu Nà Phạ I, thị trấn Bình Liêu, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lý Xuân H, sinh năm 1991; Địa chỉ: khu N, thị trấn B, huyện B, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

- Người làm chứng: Anh Chìu A N, sinh năm 1994; Địa chỉ: thôn S, xã H, huyện B, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nông Văn L có giấy phép lái xe ô tô theo quy định. Khoảng 16 giờ 50 phút ngày 05/5/2020, L điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu Dongben, biển kiểm soát 12C-089.76, trên xe có anh Chìu A N ngồi ở ghế phụ, theo hướng thị trấn Bình Liêu đi xã Hoành Mô. Khi đi đến Km29+229 Quốc lộ 18C, thuộc khu Co Nhan II, thị trấn Bình Liêu, huyện Bình Liêu, L bật xi nhan bên phải, dừng lại để anh N xuống, rồi quan sát về phía sau xe thì phát hiện thấy xe mô tô nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 14Z1-371.09 do anh Lý Xuân T, sinh năm 1996, trú tại khu N, thị trấn B điều khiển, chở phía sau anh Nông Văn X, sinh năm 1996, trú tại khu C, thị trấn B đi phía sau cùng chiều và cách xe ô tô của L khoảng 80,5m. Lúc này, do muốn quay đầu xe nên L bật đèn xi nhan hai bên, rồi tiến hành quay đầu xe ô tô để đi theo hướng ngược lại. Khi đầu xe ô tô của L vừa đi qua vạch sơn giữa đường, thì cùng lúc này, anh T cũng điều khiển xe môtô đi đến, do xe của L chuyển hướng bất ngờ, không có tín hiệu báo hướng rẽ nên anh T không kịp tránh, xe môtô của T đã đâm vào phần lốp, xi nhan và ba đờ sốc trước bên trái xe ôtô do L điều khiển, gây tai nạn. Hậu quả anh X bị thương, xe mô tô và xe ô tô bị hư hỏng.

Kết quả khám nghiện hiện trường: Đoạn đường nơi xảy ra vụ tai nạn là đường thẳng, mặt đường trải nhựa, lòng đường rộng 7,15m, có vạch sơn kẻ đứt quãng ở giữa lòng đường để phân chia hai chiều đường. Hiện trường được mô tả theo hướng thị trấn B đi xã H, phần đường bên trái rộng 3,54m; phần đường bên phải rộng 3,46m. Trên hiện trường có các dấu vết, phương tiện như sau:

Vết hằn lốp bám bụi đất do xe ô tô biển kiểm soát 12C-089.76 để lại kích thước (0,9x0,2)m hướng từ trái sang phải, tâm bụi đất nằm ở trên tim đường, đầu vết nằm ở phần đường bên trái và cách mép đường bên phải 3,76m, cách tâm trục lốp trước bên trái xe ô tô biển kiểm soát 12C-089.76 là 0,8m, cuối vết nằm ở phần đường bên phải và tiếp xúc với mép lốp trước bên trái xe ô tô.

Trên phần đường bên trái có ba vết cày xước do xe mô tô biển kiểm soát 14Z1-371.09 để lại đều có chiều hướng B – H, hơi chếch về bên trái: Vết thứ nhất kích thước (0,170,005)m, đầu vết cách mép đường bên phải 5,8m, cách đầu vết hằn lốp ô tô 4,8m và cách đầu vết cày xước thứ hai 0,4m, cuối vết cách mép đường bên phải 5,87m; Vết cày xước thứ hai kích thước (0,68x0,005)m, đầu vết cách mép đường bên phải 6,23m, cách đầu vết thứ ba 0,86m, cuối vết cách mép đường bên phải 6,4m; Vết cày xước thứ ba kích thước (6,08x0,005)m, đầu vết cách mép đường bên phải 5,58m, cuối vết tiếp xúc với mép ngoài vạch kẻ đường bên trái. Xe ô tô biển kiểm soát 12C-089.76 đỗ ở phần đường bên phải, đầu hơi chếch về phần đường bên trái, tâm trục sau bên phải cách mép đường bên phải 0,26m, tâm trục trước bên trái cách mép đường bên phải 3,06m.

Xe mô tô biển kiểm soát 14Z1-371.09 đổ nghiêng sang trái ở bờ cỏ lề đường bên trái, tâm trục trước cách mép đường bên trái 3,26m, tâm trục sau cách mép đường bên trái 2m và cách đầu vết hằn lốp 14m.

Kết quả khám các phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông thể hiện:

- Xe ôtô biển kiểm soát 12C-089.76: Phía ngoài ba đờ sốc trước, đèn xi nhan, cạnh ngoài lốp trước bên trái có vết nứt vỡ nhựa, bẹp lõm kim loại, bong chóc sơn, bám dính chất màu đen, mài trượt rách cao su lốp hướng từ sau về trước.

- Xe mô tô biển kiểm soát 14Z1-371.09: Đầu giảm sóc trước bên phải có vết mài trượt, bám dính cao su và bụi đất hướng từ trước về sau; Cần phanh, giá để chân trước, lốc máy, cánh yếm bên phải có dấu vết mài xước, cong gập hướng từ trước về sau, có bám dính chất màu đen. Ốp đèn xi nhan bên trái, cánh yếm bên trái có vết mài xước nhựa bong chóc sơn hướng từ trước về sau.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 305/20/TgT ngày 22/6/2020 của Trung tâm pháp y - Sở y tế Quảng Ninh kết luận thương tích của anh Nông Văn X gồm: Chảy máu dưới nhện thùy thái dương trái: 08%; Tụ máu dưới mảng cứng đã được phẫu thuật lấy máu tụ dưới màng cứng, giải ép não: 08%; Dập não, chảy máu dưới nhện, tụ máu dưới màng cứng hiện tại để lại di chứng liệt nửa người phải mức độ nhẹ: 36%; Gãy xương đỉnh chẩm phải, lan vào khớp thái dương chẩm phải: 08%; Ổ khuyết xương sọ bán cầu trái kích thước khoảng (15x10)cm, đáy phập phồng: 41%; Sọ vết mổ sọ não kích thước 32x0,2cm: 02%; có 07 vết xây xát tại các vị trí cẳng tay trái, đầu gối phải, mắt cá chân trái có tỷ lệ tổn thương lần lượt là 03% + 02% + 01% + 02% + 01% + 01% + 01%. Áp dụng phương pháp cộng lùi, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 75% (bảy mươi lăm phần trăm).

Tại bản kết luận định giá tài sản số 1051/KL-HĐĐGTS ngày 29/9/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Bình Liêu kết luận: Xe mô tô 14Z1-371.09, không có giấy tờ xe và không có đủ thông tin về chiếc xe mô tô nên không đủ các điều kiện để tiến hành định giá.

Tại Cơ quan điều tra, Nông Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. L đã bồi thường đầy đủ theo thỏa thuận cho đại diện người bị hại anh Nông Văn X số tiền 84.000.000đ (tám mươi tư triệu đồng), đại diện người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm và có quan điểm xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Nông Văn L.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda gắn biển kiểm soát 14Z1-371.09 của anh Lý Xuân H mua của người không quen biết với giá 5.500.000đ (năm triệu năm trăm nghìn đồng), xe không có giấy tờ mua bán. Ngày 05/5/2020 Lý Xuân T là em ruột tự lấy đi anh H không biết. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chưa làm rõ được chủ sở hữu nên tách ra tiếp tục làm rõ xử lý sau.

Đối với anh Lý Xuân T có hành vi điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe mô tô theo quy định, nồng độ Ethanol trong hơi thở có hàm lượng 0,722mg/L nên Công an huyện Bình Liêu đã xử lý vi phạm hành chính đối với anh T. Quá trình điều tra, anh T đã hỗ trợ cho người bị hại anh Nông Văn X số tiền 56.000.000d (năm mươi sáu triệu đồng).

Tại Bản cáo trạng số: 14/CT- VKS - BL ngày 28/10/2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Nông Văn L về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1,2 và 5 điều 65 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nông Văn L: từ 15 tháng đến 18 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng.

Tại phiên tòa bị cáo Nông Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Lời nói sau cùng: bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Cơ quan kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố cơ bản đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình tiến hành tố tụng không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng. Chứng cứ, tài liệu do Điều tra viên, Kiểm sát viên thu thập đều hợp pháp và đảm bảo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đã thực hiện đầy đủ chức trách, nhiệm vụ, các hành vi tố tụng đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo Nông Văn L đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với: Lời khai người làm chứng; người bị hại; Biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông; Sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông; Biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông; Bản ảnh hiện trường; Bản ảnh xác định hiện trường; Bản ảnh phương tiện; Giấy chứng nhận thương tích; Bản kết luận giám định pháp y về thương tích; Bản ảnh thương tích và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ, ngày 05/5/2020, tại Km29+229 Quốc lộ 18C, thuộc khu Co Nhan 2, thị trấn Bình Liêu, huyện Bình Liêu, Nông Văn L (có giấy phép lái xe ô tô theo quy định) đã có hành vi điều khiển xe ôtô biển kiểm soát 12C- 089.76, hướng B – H, chuyển hướng quay đầu xe không đảm bảo an toàn, không bật đèn tín hiệu báo hướng rẽ nên đã va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 14Z1-371.09 do anh Lý Xuân T điều khiển chở anh Nông Văn X, đi từ phía sau đến, làm anh X bị thương tích tổn hại 75% (bảy mươi lăm phần trăm) sức khỏe. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 1,2 điều 15 luật giao thông đường bộ nên đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 điều 260 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Liêu đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.

Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ. Bị cáo là người đã trưởng thành, có giấy phép lái xe theo quy định, có đầy đủ khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình, nhận thức được hậu quả của việc tham gia giao thông đường bộ không đúng quy định. Nhưng do cẩu thả nên khi chuyển hướng, quay đầu xe không bật đèn tín hiệu báo hướng rẽ, không đảm bảo an toàn cho các phương tiện tham gia giao thông khác, hậu quả của vụ án là nghiêm trọng nên cần phải xử lý nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, đều có ý thức chấp hành pháp luật và các quy định tại địa phường nơi cư trú, sau khi tai nạn xảy ra đã đưa các nạn nhân đi cấp cứu kịp thời, thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã tự nguyện hòa giải, sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả đầy đủ cho người bị hại, được đại diện người bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự hoặc giảm nhẹ hình phạt. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội với lỗi vô ý có khả năng tự cải tạo, và nếu không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà áp dụng quy định tại khoản 1,2 và 5 Điều 65 bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương chịu sự giám sát của chính quyền địa phương nơi cư trú và gia đình với một thời gian thử thách nhất định cũng đảm bảo giáo dục bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa sai lầm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự : Quá trình điều tra, bị cáo đã thỏa thuận bồi thường đầy đủ cho đại diện người bị hại Nông Văn X số tiền 84.000.000đ (tám mươi tư triệu đồng). Tại phiên tòa người đại diện của người bị hại Nông Văn X không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda gắn biển kiểm soát 14Z1-371.09 của anh Lý Xuân H mua của người không quen biết với giá 5.500.000d (năm triệu năm trăm nghìn đồng), xe không có giấy tờ mua bán. Ngày 05/5/2020 Lý Xuân T là em ruột tự lấy đi anh H không biết. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chưa làm rõ được chủ sở hữu nên tách ra tiếp tục làm rõ xử lý sau nên không đề cập đến.

Đối với chiếc xe ô tô biển kiểm soát 12C-08976 và các giấy tờ có liên quan, quá trình truy tố, Viện kiểm sát đã trả lại cho bị cáo ngày 28/10/2020 nên không đề cập giải quyết.

Về hình phạt bổ sung: xét thấy trước khi phạm tội bị cáo làm nghề lao động tự do, không có công việc ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định đối với bị cáo. Đối với giấy phép lái xe ô tô hạng A1, B2 mang tên Nông Văn L là giấy tờ hợp pháp của bị cáo nên cần trả lại cho bị cáo Nông Văn L.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1,2 và 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 326; Khoản 1, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nông Văn L phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”

Xử phạt : Bị cáo Nông Văn L 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 27/11/2020, giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân thị trấn N, huyện Đ, tỉnh Lạng Sơn phối hợp với gia đình bị cáo, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 luật thi hành án hình sự. “Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; Trả lại 01 (Một) giấy phép lái xe ô tô hạng A1, B2 số 270134012413 mang tên Nông Văn L cho bị cáo Nông Văn L.

Căn cứ vào: khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Bị cáo Nông Văn L phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào: Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án, phần bản án có liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại, người đại diện hợp pháp của người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ