vanban.org

Bản án 14/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị B đối với bị đơn anh Nguyễn Thanh N về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị B được ly hôn với anh Nguyễn Thanh N (Giấy chứng nhận kết hôn số 124/KH/2008, quyển số 01, ngày 04/9/2008 do Uỷ ban nhân dân xã N, huyện D (nay là phường N, thành phố D), tỉnh Bình Dương cấp). Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thanh K, sinh ngày 19/9/2006 cho a… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn, nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị B đối với bị đơn anh Nguyễn Thanh N về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 14/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 13-4-2020
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Ngọc;

2. Bà Châu Hồng Nga.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Bương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1227/2019/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2019 về việc “tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/3/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2020/QĐST-HNGĐ ngày 23/3/2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1989; thường trú: 341/3 ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; tạm trú: 1333/9 H, phường P, Quận X, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Nguyễn Thanh N, sinh năm 1988; thường trú: 71/11, khu phố M, phường N, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

(Chị Nguyễn Thị B có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, anh Nguyễn Thanh N vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 13/12/2019 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị B trình bày:

Chị Nguyễn Thị B và anh Nguyễn Thanh N tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2008, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã N, huyện D (nay là phường N, thành phố D) tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 124/KH/2008, quyển số 01 ngày 04/9/2008. Sau khi kết hôn, vợ chồng sinh sống tại tỉnh Bình Dương. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2013 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân từ đó cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, không còn chăm sóc lẫn nhau. Chị B xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với anh N.

Về con chung: Quá trình chung sống, chị Nguyễn Thị B và anh Nguyễn Thanh N có một con chung là Nguyễn Thanh K, sinh ngày 19/9/2006, hiện nay cháu K đang sống với anh N. Sau ly hôn, chị B đồng ý giao cháu K cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng, chị B sẽ thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với bị đơn anh Nguyễn Thanh N: Quá trình tố tụng, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn để làm việc, viết bản tự khai; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tham gia phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do. Đồng thời, bị đơn cũng không có ý kiến, yêu cầu gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Tại bản tự khai ngày 10/02/2020, cháu Nguyễn Thanh K trình bày: Cha mẹ cháu K không sống chung từ năm 2013, hiện nay cháu K đang ở với cha. Nếu Tòa án giải quyết cho cha mẹ ly hôn, cháu K muốn sống với cha vì để ổn định việc học của cháu.

- Ngày 31/12/2019, Tòa án xác minh tình trạng hôn nhân, quá trình chung sống và vấn đề chăm sóc nuôi dạy con chung giữa chị Nguyễn Thị B và anh Nguyễn Thanh N tại Hội Liên hiệp phụ nữ phường N và được cung cấp như sau: Hội Liên hiệp phụ nữ phường N không nhận được đơn đề nghị hòa giải quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị B và anh Nguyễn Thanh N. Đồng thời Hội Liên hiệp phụ nữ phường N cũng không tiếp nhận phản ánh từ cơ sở về mâu thuẫn giữa hai anh chị, do đó không biết rõ giữa hai anh chị có mâu thuẫn như thế nào, vấn đề con chung, công việc và thu nhập Hội Liên hiệp phụ nữ phường Đông Hòa cũng không biết nên không cung cấp được thông tin cho Tòa án.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An trình bày quan điểm về việc tuân theo pháp luật, quan điểm giải quyết vụ án: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng theo quy định pháp luật. Đối với những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị B có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Thanh N đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do. Căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị B và anh Nguyễn Thanh N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã N, huyện D (nay là phường N, thành phố D), tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 124/KH/2008, quyển số 01 ngày 04/9/2008 đúng với quy định của pháp luật, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Về nguyên nhân mâu thuẫn: Theo nguyên đơn chị Nguyễn Thị B trình bày do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, vợ chồng đã ly thân từ năm 2013 đến nay.

Xét thấy, Tòa án đã triệu tập anh Nguyễn Thanh N có mặt tại Tòa án để trình bày ý kiến nhằm hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh N không đến và cũng không có ý kiến, yêu cầu gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị B. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị B và anh N đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cả hai bên đều không muốn hàn gắn. Vì vậy, chị B yêu cầu được ly hôn với anh N là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên có căn cứ chấp nhận.

Về con chung: Quá trình chung sống, chị Nguyễn Thị B và anh Nguyễn Thanh N có một con chung là Nguyễn Thanh K, sinh ngày 19/9/2006, cháu K đang sống với anh N. Chị B đồng ý giao con chung cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng và đồng ý cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng.

Tòa án đã triệu tập anh N để trình bày ý kiến về con chung nhưng anh N vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình tố tụng. Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con…trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con…”. Xét cháu Nguyễn Thanh K đang sống ổn định với anh N; đồng thời cháu K cũng có nguyện vọng được sống với cha nên cần giao cháu K cho anh N tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng để đảm bảo được quyền lợi về mọi mặt của con chung.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Nghĩa vụ nuôi con là của cả cha lẫn mẹ, khi ly hôn, người không nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi xem xét thu nhập, khả năng thực tế của chị B và nhu cầu thiết yếu của con chung ở độ tuổi nêu trên, xét thấy chị B tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung với số tiền 2.000.000 đồng/tháng là phù hợp với quy định tại Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tài sản chung, nghĩa vụ chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét.

Từ những phân tích trên có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An về quan điểm giải quyết vụ án.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị B phải chịu án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị B đối với bị đơn anh Nguyễn Thanh N về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị B được ly hôn với anh Nguyễn Thanh N (Giấy chứng nhận kết hôn số 124/KH/2008, quyển số 01, ngày 04/9/2008 do Uỷ ban nhân dân xã N, huyện D (nay là phường N, thành phố D), tỉnh Bình Dương cấp).

- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Thanh K, sinh ngày 19/9/2006 cho anh Nguyễn Thanh N trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị B có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con với số tiền 2.000.000 đồng/tháng. Thời hạn cấp dưỡng tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Sau ly hôn, chị Nguyễn Thị B có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, anh Nguyễn Thanh N không được cản trở chị Nguyễn Thị B thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con, khi một hoặc cả hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng.

- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản (nợ chung): Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị B phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0039872 ngày 24/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã (nay là thành phố) Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Chị Nguyễn Thị B còn phải nộp 300.000 đồng.

3. Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự .

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ