vanban.org

Bản án 14/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho Nguyên đơn chị Quàng Thị S được ly hôn với bị đơn anh Lò Văn Ph.

Về con chung: Giao cháu Lò Thị Thùy A, sinh ngày 12/8/2013 cho chị Quàng Thị S được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi thành niên. Chấp nhận sự tự nguyện, chị S không yêu cầu anh Ph cấp dưỡng nuôi con chung Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai đư… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "quàng Thi S - Lò Văn P"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho Nguyên đơn chị Quàng Thị S được ly hôn với bị đơn anh Lò Văn Ph.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUẦN G

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 14/2020/HNGĐ-ST
Ngày 18-8-2020
"V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Bà: Bạc Thị Hồng

Ông: Lò Văn Quân

- Thư ký phiên tòa: Ông Thào A Thu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Chung - Kiểm sát viên.

Ngày 18/8/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 100/2020/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2020 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2020/QĐXXST - HNGĐ ngày 29/7/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2020/QĐST-DS ngày 29/7/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Quàng Thị S, sinh năm 1994

Địa chỉ: Bản Sái Tr, xã Quài C, huyện Tuần G, tỉnh Điện Biên.

Chỗ ở hiện nay: Bản Che Ph (Nay là bản Che Ph), xã Chiềng S, huyện Tuần G, tỉnh Điện Biên.

2. Bị đơn: Anh Lò Văn Ph, sinh năm 1989

Địa chỉ: Bản Sái Tr, xã Quài C, huyện Tuần G, tỉnh Điện Biên.

Anh Ph vắng mặt lần 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 28/4/2020, bản tự khai và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Quàng Thị S trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lò Văn Ph lấy nhau có đăng ký kết hôn vào ngày 06/3/2013 tại Ủy ban nhân dân xã Quài C, huyện Tuần G. Hôn nhân là tự nguyện không ai bị lừa dối, ép buộc. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mẫu thuẫn. Do nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống về tất cả các mặt từ vấn đề nhỏ rồi dần đến các vấn đề lớn hơn trong gia đình không tìm đươc tiếng nói chung luôn xảy tình trạng cãi vã, không khí gia đình luôn căng thẳng, mệt mỏi. Mặc dù anh chị đã nhiều lần bàn bạc trao đổi để tìm cách giải quyết mâu thuẫn song không có kết quả khiến tình cảm vợ chồng không còn nữa, hôn nhân không có hạnh phúc. Chị đã về nhà bố mẹ đẻ tại Bản Che Ph (Nay là bản Che Ph), xã Chiềng S sống ly thân từ hơn 3 năm nay. Từ đó đến nay không ai quan tâm đến ai nữa, không có quan hệ sinh lý và tình cảm gì. Xét thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Ph.

Về quan hệ con chung: Chị và anh Ph có một con chung là cháu Lò Thị Th t, sinh ngày 12/8/2013, cháu đang ở với chị. Chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu An đến khi thành niên và không yêu cầu anh Ph cấp dưỡng. Về điều kiện nuôi con: Chị làm ruộng và làm thuê thu nhập khoảng 7.000.000 đến 8.000.000 đồng/tháng, đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc con chung.

Về quan hệ tài sản: Tài sản riêng, tài sản chung, nợ phải trả, trả nợ lấy về: Không có.

Sau khi thụ lý vụ án, do anh Ph đi làm ăn, thường xuyên không có mặt ở nhà, thời gian đi và về không cố định, anh Ph không khai báo tạm vắng, tạm trú nên địa phương không nắm được anh Ph đang làm ăn ở đâu nên không thể tống đạt trực tiếp cho anh Ph được (Theo các biên bản xác minh hồi 09 giờ và hồi 14 ngày 07/5/2020 tại bản Sái Tr, xã Qoài C, huyện Tuần G và tại Công an xã Quài C có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú của anh Ph (BL 27 và 30), Tòa án đã tiến hành niêm yết Thông báo thụ lý vụ án số 100/TB - TLVA ngày 04/5/2020 tại nơi cư trú của anh Ph, tại Ủy ban nhân dân xã Quài C và tại trụ sở Tòa án.

Hết thời hạn niêm yết theo quy định tại điều 179 Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS), anh Ph vẫn không có mặt nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện. Ngày 15/6/2020, Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự và đã tiến hành niêm yết công khai thông báo này tại nơi cư trú của anh Ph, tại Ủy ban nhân dân xã Quài C và tại trụ sở Tòa án song anh Ph vẫn không có mặt tại phiên họp và hòa giải. Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và thông báo kết quả phiên họp bằng hình thức niêm yết công khai theo khoản 2 và khoản 3 Điều 179 BLTTDS và lập biên bản về việc không hòa giải được theo luật định, chị S cũng đề nghị Tòa án không mở phiên hòa giải lần thứ 2 nữa mà tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Ngày 29/7/2020, Tòa án nhân dân huyện Tuần G mở phiên tòa xét xử theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2020/QĐXXST - HNGĐ ngày 10/7/2020 và niêm yết công khai theo quy định của pháp luật, anh Ph vắng mặt lần thứ nhất không có lý do. Tòa án đã hoãn phiên tòa theo luật định, Tòa án tiến hành niêm yết công khai quyết định hoãn phiên tòa số 07/2020/QĐST - DS ngày 29/7/2020.

Tại phiên tòa ngày 18/8/2020, chị X vẫn giữ nguyên quan điểm như trong đơn khởi kiện, bản tự khai, anh Ph vắng mặt lần 2 không có lý do.

Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật: Về thẩm quyền và trình tự thủ tục Thẩm phán, thư ký Tòa án và Hội đồng xét xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật Tố tụng Dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân chấp nhận cho chị Quàng Thị S được ly hôn với anh Lò Văn Ph theo quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình. Về con chung: Căn cứ Điều 58, khoản 1, khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình: Chấp nhận việc giao cháu Lò Thị Thùy A, sinh ngày 12/8/2013 cho chị Quàng Thị S chăm sóc nuôi dưỡng đến khi thành niên và có khả năng lao động, chấp nhận việc chị S không yêu cầu anh Phong phải cấp dưỡng nuôi con. Về quan hệ tài sản: Không có

Về án phí: Căn cứ khoản Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chị Quàng Thị S là người dân tộc thiểu số sinh sống tại địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, thuộc diễn được miễn án phí, đề nghị HĐXX miễn án phí DSST cho chị S.

Về kiến nghị: Không

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Căn cứ nội dung đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo và địa chỉ của các đương sự, Tòa án xác định đây là vụ án: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố Tụng dân sự.

. Về pháp luật áp dụng để giải quyết vụ án: Chị Quàng Thị S và anh Lò Văn Ph kết hôn ngày 06/3/2013 đến thời điểm giải quyết, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đang có hiệu lực, do vậy Tòa án sẽ áp dụng các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.

Về việc hoãn phiên tòa: Ngày 29/7/2020, Tòa án nhân dân huyện Tuần G đã tiến hành mở phiên tòa xét xử vụ án song bị đơn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Khoản 1 Điều 227, Điều 233, Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX quyết định hoãn phiên tòa.

Về quan hệ hôn nhân: Chị S và anh Ph lấy nhau có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, chị S, anh Ph không tìm được tiếng nói chung, mâu thuẫn nhiều mặt khiến tình cảm vợ chồng không còn nữa, cuộc sống gia đình không có hạnh phúc, hiện tại anh chị đã ly thân đã hơn 3 năm, từ đó không ai quan tâm đến ai, anh Ph không có trách nhiệm gì với con chung, anh chị không còn có quan hệ sinh lý và tình cảm gì.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành các biện pháp xác minh nơi cư trú, xác minh tình trạng hôn nhân, niêm yết công khai các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp cho anh Ph song anh Ph vẫn không có mặt tại Tòa án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của đương sự theo Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Anh Ph đã không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị S vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do, đã thể hiện ý thức không chấp hành pháp luật, vi phạm các quyền và nghĩa vụ của đương sự theo điều 70 và Điều 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Anh Ph đã tự từ bỏ các các quyền của mình. Vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo Điều 207 Bộ Luật Tố tụng dân sự. Theo biên bản xác minh tình trạng hôn nhân ngày 22/5/2020 (BL34) thể hiện về nguyên nhân mâu thuẫn phù hợp với lời khai của chị S và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Anh Ph đi làm ăn thỉnh thoảng vẫn về, nhưng địa phương không nắm rõ thời gian đi về của anh Phong.

HĐXX xét thấy: Mặc dù anh Ph không có mặt tại Tòa án để thể hiện ý kiến quan điểm của mình về quan hệ hôn nhân, song qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua quá trình Tòa án thu thập chứng cứ xác minh tình trạng hôn nhân, đủ cơ sở khẳng định nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp cuộc sống gia đình không có hạnh phúc, khiến chị S đã ly thân với anh Ph được hơn 3 năm từ đó đến nay không ai quan tâm đến ai nữa. Mục đích hôn nhân là vợ chồng gần gũi, thương yêu chăm sóc, quý trọng giúp đỡ lẫn nhau không có, quan hệ hôn nhân giữa chị S và anh Ph đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị S xin ly hôn với anh Ph cần được chấp nhận theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Lò Thị Thùy A, sinh ngày 12/8/2013, quan điểm chị S xin được nuôi cháu đến tuổi thành niên và có khả năng lao động, chị S không yêu cầu anh Ph cấp dưỡng. Về điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, chị Soan ngoài làm ruộng còn đi làm công nhân thu nhập ổn định khoảng từ 6000.000 đến 9.000.000 đồng/tháng, đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc con chung thể hiện tại biên bản xác minh tình trạng hôn nhân ngày 22/5/2020 có xác nhận của chính quyền địa phương (BL 34)

HĐXX xét thấy: Qua quá trình giải quyết vụ án, anh Ph đã không lên Tòa án thể hiện quan điểm của mình về con chung, anh Ph đã tự từ bỏ quyền của mình. HĐXX căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của cháu A, quan điểm của cháu A thể hiện cháu có nguyện vọng xin được ở với mẹ (BL 10). HĐXX căn cứ nguyện vọng của cháu A, nguyện vọng và khả năng chăm sóc nuôi dưỡng của chị S về thu nhập và nơi cư trú ổn định, căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình: Quyết định chấp nhận ý kiến của chị S giao cháu Lò Thị Thùy A, sinh ngày 12/8/2013 cho chị S trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi thành niên và có khả năng lao động, chấp nhận sự tự nguyện không yêu cầu anh Ph cấp dưỡng nuôi con.

. Về quan hệ tài sản: Tài sản riêng, tài sản chung, nợ phải trả, trả nợ lấy về: Không có

Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chị Quàng Thị S thuộc diện được miễn án phí, HĐXX miễn án phí DSST cho chị Quàng Thị S.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 3 Điều 228 và Điều 273 Bộ Luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình:

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho Nguyên đơn chị Quàng Thị S được ly hôn với bị đơn anh Lò Văn Ph.

2. Về con chung: Giao cháu Lò Thị Thùy A, sinh ngày 12/8/2013 cho chị Quàng Thị S được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi thành niên. Chấp nhận sự tự nguyện, chị S không yêu cầu anh Ph cấp dưỡng nuôi con chung

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về quan hệ tài sản: Tài sản riêng, tài sản chung, nợ phải trả, nợ lấy về: Không có.

4. Về án phí DSST: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí DSST cho chị Quàng Thị S.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Quàng Thị S được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, ngày 18/8/2020; Anh Lò Văn Ph được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

- TAND tỉnh Điện Biên;

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

- VKSND huyện Tuần Giáo;

- Viện kiểm sát ND tỉnh Điện Biên;

- Chi cục THADS huyện TG;

- Các đương sự;

- UBND xã Quài C (Nơi KĐKH)

- Lưu HS.

Lê Đình Hà

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẢM

THÀNH VIÊN HĐXX

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Đình Hà Bạc Thị Hồng Lò Văn Quân

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẢM

THÀNH VIÊN HĐXX

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bạc Thị Kiên Lò Văn Ơn

Lê Đình Hà

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành khoản tiền trên thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3.1. Đình chỉ xét xử một phần yêu cầu của anh

Anh Dương Xuân Lương có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại yêu cầu trên theo quy định của pháp luật.

{6} Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Ông Nguyễn Xuân Vương đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân Sự, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Xuân Vương. Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện Điện Biên có đơn xin giải quyết vắng mặt, HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn tiến hành xét xử vắng mặt.

Về sự vắng mặt của người làm chứng: Phiên tòa ngày 27 và 28/12/2018 chỉ có anh Duẩn, chị Làn, chị Lương có mặt. Ông Bùi Quang Minh, anh Loan, anh Yên, ông Hà Văn Khuê, anh Phạm Văn Khuê vắng mặt.Xét thấy sự vắng mặt của những người làm chứng trên không ảnh hưởng đến việc xét xử, họ đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, HĐXX tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung (Bỏ)

Khoản 2 Điều 71; Điều 72; Điều 218, khoản 2 Điều 219, Điều 273 và khoản 2 Điều 244; khoản 2 Điều 157; Điều 158; khoản 2 Điều 165; Điều 166 BLTTDS năm 2015;

Căn cứ Điều 8 Luật hôn nhân gia đình năm 1986;

Căn cứ Điều 27 và Điều 32 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;

Căn cứ các Điều: Điều 27; Điều 37; khoản 1 Điều 56; Điều 59; Điều 62; Điều 81; Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 2 Điều 13, khoản 2 Điều 176 BLDS năm 1995, khoản 1 Điều 2 Luật đất đai năm 1993; Điều 166, 167, 170 và Điều 179 Luật đất đai năm 2013;

Căn cứ Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT - TANDTC - VKSNDTC - BTP của Tòa án nhân dân Tối Cao, Viện Kiểm sát nhân dân Tối Cao, Bộ Tư pháp ngày 06/01/2016 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật HNGĐ năm 2014;

Căn cứ khoản 2, khoản 4 Điều 147 BLTTDS; điểm a, b, e khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVHQ 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ HỘI THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA HỘI THẨM Bạc Thị Kiên

Lê Đình Hà

Lò Văn Thương

Cỡ chữ