- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ vào điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về…
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2020/HNGĐ-ST Ngày: 29/6/2020 V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chiêm Ngọc Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Văn Linh.
2/ Ông Trần Hoàng Việt.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Qual - Thư ký Toà án nhân dân huyện Trần
Đề, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng tham
gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hướng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 29/6/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc
Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 26/2020/TLST-HNGĐ ngày 17/01/2020 về tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/6/2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Lâm Thị N, sinh năm 1993 (có đơn xin xử vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã V, huyện Đ, tỉnh Sóc Trăng.
2. Bị đơn: Ông Thạch K, sinh năm 1993 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp C, xã B, huyện Đ, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 02/01/2020 cũng như trong quá trình giải
quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lâm Thị N trình bày: Vào năm 2017 bà và ông Thạch K tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã V, huyện Đ, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 14, ngày 25/01/2017. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 3/2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do ông K tự bỏ về nhà cha mẹ ruột của ông K sống mà không nói cho bà N biết, đến một hai tháng sau khi hết tiền thì ông K xin quay về nhà, bà N cũng đồng ý cho về, được một thời gian sau thì vẫn tiếp tục như thế nên bà N không thể chấp nhận được. Hiện bà N nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng với ông K nên yêu cầu được ly hôn.
Thời gian chung sống bà N và ông K có một con chung là: Thạch Hoàng
Gia Kh, sinh ngày 21/11/2017 hiện đang chung sống với bà N. Bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến đủ 18 tuổi, không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà N trình bày không có, không yêu cầu Tòa
án giải quyết.
- Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố
tụng cho ông Thạch K, nhưng ông K không có văn bản gửi cho Tòa án để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà N, đồng thời ông K cũng không đến tham gia phiên hòa giải cũng như tham gia phiên tòa.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề xác định:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật, tuy nhiên sự chấp hành pháp luật của bị đơn chưa đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Tòa án đã tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập xét xử đến lần thứ hai cho ông
Thạch K, nhưng ông K vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông K.
Xét yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị N, nhận thấy bà N và ông K tự
nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã V, huyện Đ, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 14, ngày 25/01/2017. Quan hệ hôn nhân của bà Ns và ông K không vi phạm các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Nhưng sau một thời gian chung sống đến tháng 3/2019 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là ông K tự ý bỏ về nhà cha mẹ ruột ở mà không nói cho bà N biết, một hai tháng ông K xin quay về, bà N cũng đồng ý, nhưng một thời gian sau tình trạng trên vẫn tiếp diễn nên bà N không chấp nhận được. Hiện bà N nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng với ông K nên có nguyện vọng ly hôn. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã động viên bà N suy nghĩ lại, hàn gắn tình cảm vợ chồng với ông K, nhưng bà N vẫn cương quyết xin được ly hôn, từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa các bên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà N được ly hôn với ông K.
[3 Về con chung: Thời gian chung sống bà N và ông K có một con chung là
Thạch Hoàng Gia Kh, sinh ngày 21/11/2017, bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến khi cháu Kh đủ 18 tuổi. Cháu Kh hiện đang chung sống với bà N, để đảm bảo cho môi trường sống của cháu không bị xáo trộn, để cháu phát triển bình thường về tâm, sinh lý nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được nuôi con của bà N, giao cháu Kh cho bà N tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu Kh đủ 18 tuổi. Hiện bà N có việc làm, thu nhập ổn định, đảm bảo đủ điều kiện nuôi con, nên việc bà N không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4 Về tài sản chung và nợ chung: Bà N trình bày không có, không yêu cầu
giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Từ những phân tích nêu trên, xét yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị của Vị
đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí sơ thẩm: Bà N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn theo quy
định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Khoản 3 Điều 36,
điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ vào điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Thị N.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lâm Thị N được ly hôn với ông Thạch K.
- Về con chung: Giao con chung là Thạch Hoàng Gia Kh, sinh ngày
21/11/2017 cho bà Lâm Thị N trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu Kh đủ 18 tuổi. Ông Thạch K không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Thạch K được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai
được cản trở. Ông Thạch K không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Thạch Hoàng Gia Kh của bà Lâm Thị N.
- Về tài sản chung: Bà Lâm Thị N không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng
xét xử không đặt ra xem xét.
- Về nợ chung: Bà Lâm Thị N không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét
xử không đặt ra xem xét.
2/ Về án phí sơ thẩm: Bà Lâm Thị N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn
đồng) án phí sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền ứng án phí bà N đã nộp 300.000 đồng, theo Biên lai số 0001992, ngày 10/01/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, bà N đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp án phí.
Ông Thạch K không phải chịu án phí sơ thẩm.
3/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải Thi hành án có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ST (Phòng KTNN&THA); - Đương sự; - VKSND huyện Trần Đề; - UBND xã V, h.TĐ; - Lưu HS. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòaTM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Nơi nhận: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòaNơi nhận: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Chiêm Ngọc Linh |