- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn giữa chị T với anh D"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Thu T được ly hôn anh Nguyễn Đại D.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T THÀNH PHỐ H --------------------- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 14/2020/HNGĐ-ST Ngày 16/6/2020 V/v Ly hôn giữa chị T và anh D |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T – THÀNH PHỐ H
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Trung Hòa
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đỗ Thu Dung
2. Ông Đàm Viết Khai
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T
- Ðại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 16/6/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, Thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 32/2020/TLST-HNGĐ ngày 12/02/2020 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2020/QÐXX-ST ngày 15 tháng 5 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2020/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2020, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị Thu T, sinh năm 1997 (Có mặt)
Đăng ký hộ khẩu thường trú và trú tại: Đội xxx, thôn S, xã T, huyện T, Thành phố H
Bị đơn: Anh Nguyễn Đại D, sinh năm 1994 (Vắng mặt lần thứ hai không có lý do)
Đăng ký hộ khẩu thường trú và trú tại: Thôn L, xã K, huyện T, Thành phố H
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, chị Lê Thị Thu T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ngày 28 tháng 6 năm 2016, chị Lê Thị Thu T và anh Nguyễn Đại D đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, Thành phố H trên cơ sở tự nguyện và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương. Sau khi kết hôn, chị T và anh D sống hòa thuận và hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có sự quan tâm, chia sẻ và chăm sóc nhau, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân. Chị T đã ly thân và chấm dứt quan hệ tình cảm với anh D từ tháng 5/2018 đến nay. Chị T không còn tình cảm vợ chồng với anh D và nhận thấy vợ chồng không có khả năng đoàn tụ nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh D.
Về con chung: Chị Lê Thị Thu T và anh Nguyễn Đại D có một con chung là cháu Nguyễn Yến N, sinh ngày 30/3/2017, cháu N đang ở cùng chị T. Nếu ly hôn, chị T có nguyện vọng nuôi cháu N và không yêu cầu anh D phải đóng góp phí tổn nuôi con chung.
Về tài sản chung vợ chồng: Chị Lê Thị Thu T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 29/4/2020, bị đơn, anh Nguyễn Đại D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Đại D và chị Lê Thị Thu T kết hôn tự nguyện, anh chị đăng ký kết hôn ngày 28 tháng 6 năm 2016 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, Thành phố H. Trong quá trình chung sống, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn nhưng không trầm trọng đến mức phải ly hôn. Tuy nhiên, do anh D không còn tình cảm với chị T và anh chị đã sống ly thân và chấm dứt quan hệ tình cảm từ tháng 6/2018 nên anh D đồng ý ly hôn với chị T.
Về con chung: Anh Nguyễn Đại D và chị Lê Thị Thu T có một con chung là cháu Nguyễn Yến N, sinh ngày 30/3/2017. Cháu N đang ở cùng chị T và ông bà ngoại. Nếu ly hôn, anh D đồng ý và đề nghị chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N. Anh D không đóng góp phí tổn nuôi con chung đối với cháu N cho chị T.
Về tài sản chung vợ chồng: Anh Nguyễn Đại D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Nguyễn Đại D có thể hiện quan điểm về việc giải quyết vụ án thông qua biên bản lấy lời khai ngày 29/4/2020 nhưng không ký biên bản lấy lời khai và không đến Tòa án để giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa: Chị Lê Thị Thu T giữ nguyên quan điểm như đã trình bày ở trên.
Xác minh tại chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, TP. H cung cấp: Chị Lê Thị Thu T và anh Nguyễn Đại D đăng ký kết hôn vào ngày 28/6/2016 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, TP. H. Sau khi kết hôn, chị Lê Thị Thu T và anh Nguyễn Đại D sống cùng bố mẹ anh D tại thôn L, xã K, huyện T, TP. H. Do phát sinh mâu thuẫn trong quá trình chung sống và không tự hòa giải được nên chị T đã nộp đơn xin ly hôn anh D trực tiếp tại Tòa án nhân dân huyện T. Chị Lê Thị Thu T và anh Nguyễn Đại D có một con chung là cháu Nguyễn Yến N, sinh ngày 30/3/2017, cháu Nđang ở cùng chị T. Để đảm bảo quyền, lợi ích cho các đương sự trong vụ án, Ủy ban nhân dân xã K đề nghị Tòa án nhân dân huyện T giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T trình bày quan điểm: Từ khi thụ lý vụ án đến khi kết thúc, Thẩm phán đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự. Nguyên đơn, đã chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự, bị đơn không chấp hành các quyền và nghĩa vụ nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Sau khi nghiên hồ sơ vụ án và nghe phần trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Lê Thị Thu T được ly hôn anh Nguyễn Đại D; Về con chung: Giao cháu Nguyễn Yến N, sinh ngày 30/3/2017 cho chị Lê Thị Thu T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi hoặc khi có đề nghị, thay đổi khác. Tạm hoãn nghĩa vụ đóng góp phí tổn nuôi cho chung cho anh D cho đến khi chị T có đề nghị, thay đổi khác. Anh D được quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Về tài sản chung vợ chồng: Do chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề nghị xem xét. Về án phí: Chị Lê Thị Thu T phải nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ÐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, các chứng cứ và tài liệu do các đương sự xuất trình, Hội đồng xét xử nhận định:
1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Theo đơn khởi kiện vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình, chị Lê Thị Thu T đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn và các vấn đề khác với anh Nguyễn Đại D, sinh năm 1994, đăng ký hộ khẩu thường trú và trú tại thôn L, xã K, huyện T, TP. H nên xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình theo quy định tại Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 35 và điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.
2] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Bị đơn không chấp hành các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự, vắng mặt không có lý do lần thứ hai tại phiên tòa nên căn cứ Điều căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định của pháp luật.
3] Về nội dung vụ án:
3.1] Về quan hệ vợ chồng: Chị Lê Thị Thu T và anh Nguyễn Đại D kết hôn vào ngày 28 tháng 6 năm 2016 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, Thành phố H. Chị T và anh D kết hôn tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo đúng phong tục của địa phương nên xác định đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, sau một thời gian chung sống, do bất đồng quan điểm sống nên giữa chị T và anh D đã nảy sinh nhiều mâu thuẫn. Mâu thuẫn trầm trọng kéo dài nên vợ chồng đã sống ly thân và chấm dứt quan hệ tình cảm từ tháng 6/2018 đến nay. Tòa án tiến hành hòa giải để chị T và anh D đoàn tụ nhưng không thành do chị T cương quyết đề nghị Tòa xét xử cho ly hôn.
Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Lê Thị Thu T và anh Nguyễn Đại D căng thẳng từ lâu, cả hai đã ly thân và chấm dứt quan hệ tình cảm được hai năm, chị T không còn tình cảm vợ chồng với anh D, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị T giữ nguyên quan điểm xin ly hôn. Trong khi đó, anh D cũng thừa nhận không còn tình cảm với chị T và cũng không đến tham gia các buổi hòa giải tại Tòa án, không thể hiện mong muốn được đoàn tụ. Do vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014 xử cho chị T được ly hôn với anh D là đúng pháp luật.
3.2] Về con chung: Chị Lê Thị Thu T và anh Nguyễn Đại D có một con chung là cháu Nguyễn Yến N, sinh ngày 30/3/2017. Nếu ly hôn, chị T có nguyện vọng nuôi cháu N và không yêu cầu anh D phải đóng góp phí tổn nuôi con chung. Quá trình giải quyết vụ án, anh D cũng đồng ý và đề nghị chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N nên giao cháu N cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
3.3] Về đóng góp phí tổn nuôi con chung: Chị Lê Thị Thu T không yêu cầu anh Nguyễn Đại D phải đóng góp phí tổn nuôi con chung nên tạm hoãn nghĩa vụ đóng góp phí tổn nuôi con chung của anh Nguyễn Đại D đối với cháu Nguyễn Yến N cho đến khi có đề nghị, thay đổi khác.
3.5] Về tài sản vợ chồng: Chị Lê Thị Thu T và anh Nguyễn Đại D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
3.6] Về án phí: Chị Lê Thị Thu T phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0012186 ngày 12/02/2020 tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện T.
3.7] Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị Thu T và anh Nguyễn Đại D có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39 Điều 147; Điều 227; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Thu T được ly hôn anh Nguyễn Đại D.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Yến N, sinh ngày 30/3/2017 cho chị Lê Thị Thu T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Nguyễn Yến N đủ 18 hoặc khi có thay đổi khác. Tạm hoãn nghĩa vụ đóng góp phí tổn nuôi con chung của anh Nguyễn Đại D đối với cháu Nguyễn Yến N cho đến khi có thay đổi khác.
Quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung sau khi ly hôn của anh Nguyễn Đại D được pháp luật bảo đảm.
3. Về tài sản chung của vợ chồng: Chị Lê Thị Thu T và anh Nguyễn Đại D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
4. Về án phí: Chị Lê Thị Thu T phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0012186 ngày 12/02/2020 tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện T.
5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND TP. H; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện T; - Viện kiểm sát nhân dân huyện T; - Ủy ban nhân dân xã K; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trung Hòa |