- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận Tô Thị U và Nguyễn Văn L là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2020/HNGĐ-ST Ngày: 29/5/2020 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con và cấp dưỡng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Út.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Văn Hai.
Ông Nguyễn Chí Công.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Cao Diễm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 29 tháng 5 năm 2020, tại Hội trường xét xử, Toà án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 114/2020/TLST-HNGĐ, ngày 29/4/2020, về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con và cấp dưỡng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/5/2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Tô Thị U - Sinh năm: 1980 (có mặt); địa chỉ: ấp TB, xã TT, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Nguyễn Văn L - Sinh năm: 1975 (có mặt); địa chỉ: ấp TB, xã TT, huyện LV, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 31/3/2020, biên bản hòa giải ngày 14/5/2020 và tại phiên tòa nguyên đơn Tô Thị U trình bày:
Chị và anh L quen nhau gần 03 năm rồi tổ chức lễ cưới năm 2003 rồi sống chung như vợ chồng, do không hiểu biết pháp luật nên không có đăng ký kết hôn, cuộc sống thời gian đầu sống rất hạnh phúc nhưng về sau có nhiều điểm bất đồng trong cuộc sống, hôn nhân không mang lại hạnh phúc, trong đời sống hằng ngày thường phát sinh mâu thuẩn, chị Tô Thị U yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn L; về con chung có 01 con chung tên Nguyễn Hữu L, sinh ngày 27/5/2002, chị Tô Thị U yêu cầu nuôi con, không yêu cầu anh Nguyễn Văn L cấp dưỡng nuôi con; về tài sản và nợ chung chị Tô Thị U không yêu cầu giải quyết.
Tại biên bản hòa giải ngày 14/5/2020 và tại phiên tòa bị đơn Nguyễn Văn L trình bày:
Anh và chị Tô Thị U quen nhau rồi được cha mẹ hai bên tổ chức lễ cưới năm 2003, do không hiểu biết pháp luật nên không có đăng ký kết hôn, cuộc sống thời gian đầu rất hạnh phúc nhưng về sau có nhiều quan điểm bất đồng, nay anh đồng ý ly hôn với Tô Thị U; về con chung có 01 con chung tên Nguyễn Hữu L, sinh ngày 27/5/2002, anh Nguyễn Văn L đồng ý giao con cho chị Tô Thị U nuôi và anh Nguyễn Văn L không cấp dưỡng nuôi con; về tài sản và nợ chung Nguyễn Văn L không yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hôn nhân: Tô Thị U và Nguyễn Văn L sống chung như vợ chồng từ năm 2003 đến nay nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định. Do đó, pháp luật không công nhận là vợ chồng, vì đã vi phạm vào khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.
Tại khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình có ghi:
“1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.
Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý…”.
Tại khoản 1 Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình có ghi:
“1. Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này…”.
Đối chiếu khoản 2 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình có ghi:
“2. Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này...”.
Về con chung: Tô Thị U và Nguyễn Văn L có 01 con chung tên Nguyễn Hữu L, sinh ngày 27/5/2002. Tô Thị Út yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh Nguyễn Văn L cấp dưỡng nuôi con, đồng thời Nguyễn Hữu Lcũng có nguyện vọng sống chung với mẹ không yêu cầu anh L cấp dưỡng. Anh Nguyễn Văn L đồng ý giao con cho chị Tô Thị U tiếp tục nuôi dưỡng, anh Nguyễn Văn L không cấp dưỡng nuôi con. Xét sự thỏa thuận này là hoàn toàn tự nguyện, đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận là có căn cứ theo quy định tại Điều 81, Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng: Đáng lý ra anh Nguyễn Văn L không trực tiếp nuôi con thì phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình, nhưng Tô Thị U không yêu cầu Nguyễn Văn L cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt thành vấn đề xem xét, giải quyết.
Về tài sản và nợ chung: Tô Thị U và Nguyễn Văn L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng không xem xét giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn Tô Thị U phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Không công nhận Tô Thị U và Nguyễn Văn L là vợ chồng.
2. Về con chung: Tô Thị U được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Hữu L, sinh ngày 27/5/2002. Nguyễn Văn L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Tô Thị U cùng các thành viên gia đình không được cản trở Nguyễn Văn L trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi đưỡng, giáo dục con chung khi ly hôn.
3. Về án phí sơ thẩm: Tô Thị U phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mà Tô Thị U đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0000195, ngày 28/4/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp (Tô Thị U đã nộp xong).
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29/5/2020).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ĐT; - VKSND huyện LV; - CCTHADS huyện LV; - Các đương sự; - Lưu HS, AV. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Út |