vanban.org

Bản án 14/2020/DS-ST — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Phú Thọ Tuyên án 15/06/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Ông Nguyễn Quyết K khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với ông Nguyễn v…"
  • Căn cứ chính? Điều 100 Luật Đất đai; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ
--------------------------------------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2020/DS-ST
Ngày 15 tháng 6 năm 2020
V/v tranh chấp quyển sử du ̣ng
đất và hủy Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƢỚ C CỘNG HÒ A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAṂ

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phá n – chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Huyền;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hảo;

Bà Nguyễn Thi ̣ Phẩm;

- Thư ký phiên tò a: Bà Hoàng Thị V – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh P;

- Đại diê ̣n Viê ̣n kiểm sá t nhân dân tỉnh P tham gia phiên tò a: Bà Nguyễn Thị Kim Cúc - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 09 và 15 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh P xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 72/2019/TLST-DS ngày 10 tháng 12 năm 2019 về viê ̣c “Tranh chấp quyền sử du ̣ng đất ” theo Quyết đi ̣nh đưa vu ̣ án ra xét xử số : 09/2020/QĐXX-ST ngày 22 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Quyết T, sinh năm 1957; địa chỉ: Khu 3, xã H (nay là khu 14, xã D), huyện T, tỉnh P (có mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1969; địa chỉ: Khu 5, xã H (Nay là khu 15, xã D), huyện T, tỉnh P (có mặt).

Ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn:

- Ông Nguyễn Xuân V , sinh năm 1952 – Luâ ̣t sư công ty luâ ̣t TNHH H; đi ̣a chi: Sổ

́ 01, ngõ 148, phố M, phườ ng T, TP. V, tỉnh P (có mặt).

- Ông Nguyễn Anh Đ, sinh năm 1984 và bà Hoàng Thị H, sinh năm 1991. Đều thuô ̣c Công ty Luâ ̣t TNHH H; đi ̣a chỉ: Phòng 308, Tòa nhà 17T10 Nguyễn Thị Định, phườ ng T, quâ ̣n C, thành phố H.

Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- UBND huyện T, tỉnh P. Ngườ i đa ̣i diê ̣n theo pháp luâ ̣t : Ông Pha ̣m Văn Q – Chứ c vu ̣: Chủ tịch UBND huyện T. Ngườ i đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Văn H – Chứ c vu ̣: Giám đốc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyê ̣n T ( có đơn xin xét xử vắng mặt).

- UBND xã H (Nay là xã D), huyện T, tỉnh P. Ngườ i đa ̣i diê ̣n theo pháp luâ ̣t: Ông Đào Tiến L – Chứ c vu ̣: Chủ tịch UBND xã D. Ngườ i đa ̣i diê ̣n theo ủy quyền: Ông Phan Ngo ̣c C – Chứ c vu ̣: Phó Chủ tịch UBND xã D.

- Bà Trần Thị N, sinh năm 1959 – Là vợ của ông T; địa chỉ: Khu 3, xã H(nay là khu 14, xã D), huyện T, tỉnh P.

- Anh Nguyễn Quyết T, sinh năm 1987 và chị Quán Xuân T– Là con trai và con dâu của ông T; địa chỉ: Khu 3, xã H (nay là khu 14, xã D), huyện T, tỉnh P.

- Bà Hoàng Thị V, sinh năm 1974 – Là vợ của ông H; địa chỉ: Khu 5, xã H (Nay là khu 15, xã D), huyện T, tỉnh P.

- Ông Nguyễn Kim T, sinh năm 1927 – Là bố đẻ của ông T và ông H; địa chỉ: Khu 3, xã H (nay là khu 14, xã D), huyện T, tỉnh P.

Ngƣời làm chƣ́ ng:

- Bà Nguyễn Thi ̣ X, sinh năm 1953; đi ̣a chỉ: Khu 14, xã D, huyê ̣n T, tỉnh P (vắng mặt).

- Ông Phan Văn H, sinh năm 1969; đi ̣a chỉ: Khu 14, xã D, huyê ̣n T, tỉnh P (vắng mặt).

- Ông Phan Quang L, sinh năm 1955; đi ̣a chỉ: Khu 14, xã D, huyê ̣n T, tỉnh P (có mặt)

- Ông Phan Hồng S, sinh năm 1959; đi ̣a chỉ: Khu 14, xã D, huyê ̣n T, tỉnh P (vắng mặt).

- Ông Phan Ngo ̣c A; đi ̣a chi: Khu 14, xã D, huyê ̣̉

n T, tỉnh P (vắng mặt).

- Ông Phan Văn Đ; đi ̣a chi: Khu 14, xã D, huyê ̣̉

n T, tỉnh P (vắng mặt).

- Bà Phan Thị S; đi ̣a chi: Khu 14, xã D, huyê ̣̉

n T, tỉnh P (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ Á N:

Theo đơn khởi kiê ̣n , bản tự khai và trong quá trình tố tụng nguyên đơn ông Nguyễn Quyết T trình bày: Ngày 19/9/1990, ông có mua của bà Phan Thi ̣ S – Là cán bộ nghỉ hưu mất sức thuộc xã Ha, huyê ̣n T 01 thử a đất vớ i diê ̣n tich

́ được cấp là 01 sào 4 thướ c, tài sản trên đất là 01 nhà cấp 4 tườ ng ga ̣ch 3 gian (Có bản giao kèo tiền mua bán tài sản kèm theo). Hai bên đa ra xã

để lã

̀m thủ tu ̣c cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất cho ông , nhưng xa đã ̃ làm không đúng tên ông, đã cấp nhầm sang tên cho ông Nguyễn Văn H (Là em trai cùng cha khác mẹ). Khi xa cẫ ́p nhầm giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất nhầm sang tên ông H thì ông mới biết , ông có ra Ủy ban nhân dân hỏi ông N (Khi đó đang là cán bộ địa chính xã ) thì ông N trả lời là đợi đợt sau sẽ điều chỉnh lại tên trong Giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất . Nhưng kể từ thờ i điểm đó đến nay tên trong Giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất vẫn là tên ông Nguyễn Văn H. Từ khi được UBND huyện T (nay là T) cấp giấy chứng nhận quyền sử đất mang tên ông Nguyễn Văn H ông vẫn là người giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ đó đến nay. Nay ông đề nghi ̣ Tòa án tuyên hủy giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất số A 515797 do UBND huyê ̣n T, tỉnh V (Nay là UBND huyê ̣n T, tỉnh P) cấp ngày 10/4/1991 đứ ng tên ôn g Nguyễn Văn H và buộc ông H phải trả lại diện tích đất 480m2 tại địa chỉ khu 3, xã H, huyê ̣n T, tỉnh P cho ông. Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn là buộc nguyên đơn phải tháo dỡ các công trình xây dựng trái phép trên đất của ông và trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nguyên đơn không chấp nhận vi cho rằng quyền sử du ̣ng đất trên là của ông , ông H chỉ đứng

̀ tên hô ̣ ông trên giấy tờ . Còn các tài sản trên đất là do con trai và con dâu ông là anh Nguyễn Quyết T và chị Quán Thị Xuân T xây dựng.

Bị đơn ông Nguyễn Văn H và các luật sư bảo vệ quyền và lợi ích cho bị đơn thống nhất trình bày: Ông và ông Nguyễn Quyết T có mối quan hê ̣ anh em cùng cha khác mẹ . Bố đẻ ông là ông Nguyễn Kim T - 92 tuổi ở khu 3 xã H, huyê ̣n T, tỉnh P có lấy 02 vợ. Vợ cả là bà Đi ̣nh Thi ̣ T, 90 tuổi. Bà T sinh được hai ngườ i con là Nguyễn Thị X và Nguyễn Quyết T . Bố ông và bà cả sống vớ i vợ chồng anh T ta ̣i khu 3 xã H, huyê ̣n T, tỉnh P.

Mẹ đẻ của ông là bà Nguyễn Thi ̣ H, sinh năm 1937 (mất năm 2015). Mẹ ông có 07 ngườ i con là Nguyễn Thi ̣ Kim L, Nguyễn Văn M, Nguyễn Văn Q, Nguyễn Thi ̣ Kim D, Nguyễn Văn H, Nguyễn Thi ̣ V, Nguyễn Văn Đ đều ở thành phố V, tỉnh P.

Năm 1989, bố đẻ của ông là ô ng Nguyễn Kim T có sang xã Phượng Lâu, thành phố V, nói vớ i me ̣ ông và các anh chi ̣ em là bên quê cha đấ t tổ có mô ̣t mình anh T là con trai ở . Ông muốn đón ông và em trai là Nguyễn Văn Đ về Hồng Đà sinh sống , ông có trách nhiê ̣m mua nhà đất cho hai anh em . Sau khi suy nghi bã ̀n ba ̣c , ông đa nhẫ

́t tri . Năm 1989 ông và em trai Nguyễn Văn Đ đa ̃

́ về xa H sinh sỗ

́ng cùng bố. Mẹ cả, vợ chồng anh T và 3 cháu con anh T còn nhỏ ở trong một ngôi nhà ở khu 3, xã H. Tôi và em trai tôi mỗi ngườ i mô ̣t xe công nông cha ̣y chở hàng . Lúc không có hàng còn làm lò rèn và làm máy sát gạo bơi đò ngang cùng bố . Khoảng đến năm 1991 bố me ̣ có mua cho tôi mô ̣t ngôi nhà cấp bốn ba gian, thử a đất số 150, tờ bản đồ số 6, diê ̣n tich 480m2 tại đội 3, xã H,

́ huyện T, tỉnh V của bà Phan Thị S. Ngày 10/4/1991 UBND huyê ̣n Tam Thanh cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất đứ ng tên ông

Nguyễn Văn H . Năm 1992, ông cướ i vợ là bà Hoàng Thị V. Năm 1993 vợ chồng ông chuyển ra ngôi nhà bố mẹ mua cho để ở . Thờ i gian vợ chồng ông ở riêng trong ngôi nhà đó là 10 năm. Vợ chồng ông cũng tích cóp được một ít tiền, đồng thờ i thử a đất đó bi ̣ ô nhiễm, ở ẩm thấp nên năm 2002 vợ chồng ông đa mua đẫ

́t và làm nhà và chuyển ra ở ta ̣i khu 5, xã H. Trong thời gian từ năm 1990 đến năm 2002 vợ chồng ông ở trên thửa đất số 150, trên đất có ngôi nhà cấp bốn 3 gian. Từ khi ông về ở trên thửa đất này ông không cải tạo, nâng cấp được gì vì thửa đất rất trũng, thường bị lụt lội, do vậy ngôi nhà và thử a đất đó không ai ở, lâu ngày xuống cấp và hỏng.

Năm 2006 ông Nguyễn Quyết T có mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông để t hế chấp ngân hàng vay vố n làm ăn . Ngày 26/11/2010 ông T đa ̃ trả hết nợ ngân hàng và lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ra và giữ lại từ đó. Khoảng cuối năm 2013, đầu năm 2014 ông T đa tự̃ ý mua đất về đổ lên khu đất của ông mà không được sự đồng ý của vợ chồng ông. Ông đa cõ ́ đơn đề nghi ̣ gử i ra UBND xã , xã đã có văn bản yêu cầu ông T dừ ng la ̣i. Ông T không chấp hành mà còn tiếp tục đổ đất san n ền xây dựng công trinh trên khu đất đó . Vợ

̀ ông là bà Hoàng Thị V đa cõ ́ đơn gử i ra UBND xa H yêu cẫ

̀u giải quyết. UBND xã có buổi làm viê ̣c vào ngày 06/3/2014. Ngày 10/3/2016 UBND xa đã ban hã

̀nh công văn số 07 yêu cầu hai bên giữ nguyên hiê ̣n tra ̣ng đất . Nghiêm cấm viê ̣c đổ đất, san nền và xây dựng các công trinh trên thử a đất đang tranh chấp . Phía bị

̀

đơn không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hủy giấy chứng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất số A 515797 do UBND huyê ̣n T, tỉnh V (Nay là UBND huyê ̣n T, tỉnh P) cấp ngày 10/4/1991 đứ ng tên ông Nguyễn Văn H và buộc ông H phải trả lại diện tích đất 480m2 tại địa chỉ khu 3, xã H, huyê ̣n T, tỉnh P cho ông. Đồng thời bị đơn yêu cầu phản tố là buộc nguyên đơn ông Nguyễn Quyết T cùng con trai là Nguyễn Quyết T phải tháo dỡ các công trình xây dựng tr ái phép trên đất của ông; trả lại thửa đất số 150 tờ bản đồ số 6, diện tích 480m2 tại khu 3 xã H (nay là khu 14 xã D) huyện T và trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà hiện nay ông T đang giữ trái phép.

Ngườ i có quyền lợi nghia vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh P.

̃ Ngườ i đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Văn H – Chứ c vu ̣: Giám đốc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyê ̣n T trình bày quan điểm về vụ á n: Công tác đăng ký, cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất của UBND huyê ̣n Tam Thanh (Nay là UBND huyê ̣n T) thờ i điểm năm 1991 dựa vào danh sách do UBND xa ̃ lâ ̣p và gử i đến mà không có hồ sơ cu ̣ thể đến từ ng thử a đất, dẫn đến không có hồ sơ cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất

. Hiê ̣n nay , kho lưu trữ của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất không có hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn H. Viê ̣c cấp giấy chứ ng nhâ ̣n năm 1991 chỉ có sổ cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất. Trong sổ cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử dụng đất ghi thông tin thửa đất mà Tòa án đang giải quyết tranh chấp như sau : Thử a số 150, tờ bản đồ số 6 (Bản đồ 299), diê ̣n tich 480m2, loại đất thổ cư, đứ ng

́ tên chủ sử du ̣ng đất là ông Nguyễn Văn H , số vào sổ cấp GCN 3986, số phát hành A 515797, cấp ngày 10/4/1991. Do không có hồ sơ lưu trữ nên về nguồn gốc thử a đất Văn phòng đăng ký quyền sử du ̣ng đất không nắm được . Theo kết quả hiện trạng đo đạc của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thì thửa đất trên có số thử a 317, tờ bản đồ số 16 (Bản đồ địa chính), diê ̣n tich 511,1 m2. Diê ̣n

́ tích đất tăng 31,1 m2 so vớ i bản đ ồ 299 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đa cẫ ́p là do sai số đo đa ̣c . Đề nghi ̣ Tòa án giải quyết theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t. Ông đề nghi ̣ Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt ông.

Ngườ i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND xã Hồng Đà (Nay là xã D), huyê ̣n T. Ngườ i đa ̣i diê ̣n theo pháp luâ ̣t ông Phan Ngo ̣c C– Chứ c vu ̣: Phó chủ tịch UBND xã D trình bày: UBND xã H (Nay là xã D) có nhận được đơn đề nghị của ông Nguyễn Quyết T đề ngày 13/8/2019, nội dung đòi lại thửa đất số 150, diện tích 480m2, chủ sử dụng do ông Nguyễn Văn H khu 5, xã H quản lý. Ngày 16/9/2019 UBND xã H đã tiến hành hòa giải nhưng kết quả hòa giải không thành. Căn cứ vào các tài liệu liên quan UBND xã D thấy rằng việc khởi kiện của ông Nguyễn Quyết T đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Căn cứ vào đơn của ông T ngày 13/8/2019 cho thấy việc ông T đồng ý để ông H đứng tên làm hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có nghĩa là đã đồng ý giao quyền sử dụng đất cho ông H, còn nếu ông T nhờ ông H đứng tên hộ là không đúng với quy định của pháp luật, hơn nữa không có văn bản gì giao kèo với ông H là đứng tên hộ cũng như không có chứng cứ gì khác để chứng minh nên không có cơ sở hòa giải. Vậy UBND xã đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh P giải quyết theo quy định của pháp luật.

Căn cứ Bộ luật dân sự năm 2015, Luật đất đai năm 2013 thì việc quản lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn H và sử dụng theo các quy định của pháp luật như thừa kế, thế chấp, cho tặng… nên việc ông giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T thì ông H phải tự chịu trách nhiệm, nếu ông T dùng thủ đoạn chiếm dụng, chiếm đoạt, hủy hoại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông H thì ông T phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Ngườ i có quyền lợi nghia vụ liên quan bà Trần Thị N (Là vợ ông T) trình

̃ bày: Ngày 19/9/1990 gia đinh bà (Chồng bà là ông Nguyễn Quyết T) có mua

̀ của bà Phan Thị S thuô ̣c khu 3,xã H (Nay là xa D), huyê ̣̃

n T 01 thử a đất vớ i diê ̣n tích được cấp là 01 sào 4 thướ c, tài sản trên đất là 01 nhà cấp 4 tườ ng ga ̣ch 3 gian (Có bản giao kèo tiền mua bán tài sản kèm theo ). Đầu năm 1991 ông T có nhờ ông H đứ ng tên hô ̣ ông (Ông Nguyễn Văn H là em trai cùng cha khác mẹ vớ i ông T). Sau đó được UBND huyê ̣n Tam Thanh (nay là T) cấp giấy ch ứng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất ngày 10/4/1991; tờ bản đồ số 6, số thử a 150; diê ̣n tich

́ đất 480m2. Năm 1993 gia đinh bà cho ông Nguyễn Văn H ở nhờ đến năm 2002

̀ thì gia đình ông H chuyển đi. Từ năm 2002 gia đinh bà tiếp quản và sử dụng đến

̀ năm 2007 gia đinh bà đổ đất san lấp mă ̣t bằng lần thứ nhất . Năm 2010 gia đinh

̀

̀ đổ đất san lấp mă ̣t bằng lần thứ hai . Từ năm 2013, 2014 đổ đất san lấp lần thứ 3 và cũng từ năm 2013 gia đinh bà cho con trai là anh Nguyễn Quyết T, chị Quán

̀ Xuân T là con dâu và bố chồng là cụ Nguyễn Kim T ở và sinh sống ổn định trên mảnh đất này cho đến nay.

Năm 2013 gia đinh đa yêu cẫ

̀u ông H trả lại tên trong giấy chứng nhận

̀ quyền sử du ̣ng đất cho chồng tôi là ông Nguyễn Quyết T nhưng ông H không đồng ý. Gia đinh đa cõ ́ đơn đề nghi ̣ UBND xa H (Nay lã

̀ UBND xa D) hòa giảĩ

̀ nhưng không thành. Nay quan điểm của bà đề nghi ̣Tòa án tuyên hủy giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất số A 515797 do UBND huyê ̣n T, tỉnh V (Nay là UBND huyê ̣n T, tỉnh P) cấp ngày 10/4/1991 đứ ng tên ông Nguyễn Văn H và buộc ông H phải trả lại diê ̣n tich đất 480m2 tại địa chỉ khu 3, xã Hồng Đà, huyê ̣n T, tỉnh P

́ cho ông Nguyễn Quyết T (Là chồng bà).

Ngườ i có quyền lợi nghia vụ liên quan anh Nguyễn Quyết T và chị Quán

̃ Xuân T trình bày: Chúng tôi là con trai và con dâu của ông Nguyễn Quyết T và bà Trần Thị N. Thử a đất đang tranh chấp có nguồn gốc là năm 1990 bố tôi có mua của bà Phan Thị S thuô ̣c khu 3, xã H (Nay là xa D), huyê ̣̃

n T 01 thử a đất vớ i diê ̣n tich được cấp là 01 sào 4 thướ c, tài sản trên đất là 01 nhà cấp 4 tườ ng

́ gạch 3 gian (Có bản giao kèo tiền mua bán tài sản kèm theo ). Năm 1991 bố tôi là ông T có nhờ ông H đứ ng tên hô ̣ ông (Ông Nguyễn Văn H là em trai cùng cha khác mẹ với bố tôi). Sau đó được UBND huyê ̣n Tam Thanh (nay là T) cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất ngày 10/4/1991; tờ bản đồ số 6, số thử a 150; diê ̣n tích đất 480 m2. Năm 1993 bố tôi cùng gia đinh cho ông Nguyễn Văn H ở nhờ

̀

đến năm 2002 thì gia đình ông H chuyển đi. Trong thờ i gian đó bố tô i vẫn quản lý sử dụng đất và nộp thuế . Từ năm 2004 đến 2007 bố tôi đổ đất san lấp mă ̣t bằng, thả cá và sử dụng diện tích trên . Năm 2010 gia đinh đổ đất san lấp mă ̣t

̀ bằng lần thứ hai . Năm 2012 tôi xây dựng gia đinh vớ i chi ̣ Thư bố tôi đa đỗ ̀ng ý

̀ cho tôi cùng vớ i cu ̣ Nguyễn Kim T (Là ông nội của chúng tôi) ở và sinh sống ổn đi ̣nh trên mảnh đất đó từ đó đến nay . Đồng thời từ năm đó đến nay tôi tiếp tục đổ đất và xây dựng quán, nhà ở và quản lý sử dụng mảnh đất trên. Năm 2013 gia đinh đa yêu cẫ

̀u ông H trả lại tên trong giấy chứng nhận q uyền sử du ̣ng đất cho ̀ bố tôi nhưng ông H không đồng ý. Nay quan điểm của chúng tôi đề nghi ̣ Tòa án tuyên hủy giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất số A 515797 do UBND huyê ̣n T, tỉnh V (Nay là UBND huyê ̣n T, tỉnh P) cấp ngày 10/4/1991 đứ ng tên ông Nguyễn Văn H và buộc ông H phải trả lại diện tích đất 480m2 tại địa chỉ khu 3, xã H, huyê ̣n T, tỉnh H cho ông Nguyễn Quyết T (Là bố của chúng tôi).

Ngườ i có quyền lợi nghia vụ liên quan ông Nguyễn Kim T trình bày (Bút

̃ lục 71) và tại phiên tòa sơ thẩm: Ông là bố đẻ của ông Nguyễn Quyết T và ông Nguyễn Văn H . Ông T là con của ông và bà cả Đi nh Thi ̣ T. Ông H là con của ông và bà hai Nguyễn Thi ̣ H. Về nguồn gốc thử a đất ông T và ông H đang tranh chấp là con trai ông là ông Nguyễn Quyết T mua của bà Phan Thi ̣ S, ở khu 3, xã H, huyê ̣n T vào năm 1990, thửa đất trên không phải của ông, nên ông không có quyền cho ông H, ông có tiền hay công sức đóng góp gì vào thửa đất này, ông không có liên quan gì đến thửa đất này. Ông Nguyễn Quyết T nhờ em trai là Nguyễn Văn H đứng tên làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ngày 10/4/1991 được UBND huyện Tam Thanh (nay là T) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn Văn H nhưng bìa đỏ từ ngày cấp đến nay là ông T giữ (BL 16). Do vâ ̣y, thử a đất trên không phải của ông cũng không phải của ông H. Quan điểm của ông là đề nghi ̣ Tòa án tuyên hủy giấy chứng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất số A 515797 do UBND huyê ̣n T, tỉnh V (Nay là UBND huyê ̣n T, tỉnh P) cấp ngày 10/4/1991 đứ ng tên ông Nguyễn Văn H và buộc ông H phải trả lại diện tích đất 480m2 tại địa chỉ khu 3, xã H, huyê ̣n T, tỉnh P cho ông Nguyễn Quyết T.

Ngườ i có quyền lợi nghia vụ liên quan bà Hoàng Thị V trình bày: Năm

̃ 1992, bà kết hôn cùng ông Nguyễn Văn H . Vợ chồng bà sống chung cùng bố mẹ chồng và vợ chồng anh Nguyễn Quyết T và ba cháu con anh T. Năm 1993 bố chồng bà là ông Nguyễn Kim T có nói với vợ chồng bà : Bố me ̣ đa mua chõ anh H nhà đất của bà Phan Thị S và cho vợ chồng bà ra ở riêng ở đó . Thờ i điểm đó khu đất nhà bà ở ẩm thấp, nướ c nhiều gây ngâ ̣p và ô nhiễm. Sau đó vợ chồng bà tích cóp được ít tiền mua đất làm nhà ở khu 5, xã H. Ngôi nhà và thử a đất sau đó không ai ở đa xuỗ

́ng cấp và hỏng . Năm 2006 anh trai chồng bà là ông Nguyễn Quyết T có xuống nhà bà và nói cần tiền làm ăn, nên đa mượn bìa đỏ để̃ vay vốn ngân hàng . Vợ chồng bà nhất tri . Năm 2010, ông T trả hết nợ Ngân

́

hàng rút bìa đỏ ra và giữ luôn từ đó đến nay.

Khoảng cuối năm 2013 đầu năm 2014 ông T đa tự̃ ý mua đất đổ vào khu đất củ a vợ chồng bà . Vợ chồng bà đa lã ̀m đơn đề nghị UBND xã H can thiê ̣p, nhưng ông T không chấp hành và xây dựng các công trinh trên đất để vợ chồng ,

̀ con trai và con dâu sinh sống . Nay đối vớ i nô ̣i dung khở i kiê ̣n củ a ông T quan điểm của bà như sau: Nhà đất đó là của bố mẹ chồng mua cho ông H chồng bà, đa được chĩ

nh quyền cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất . Viê ̣c ông T tự ý

́ đổ đất san nền, xây dựng công trinh trên đó mà không được sự đồng ý của vợ

̀

chồng bà là vi pha ̣m pháp luâ ̣t. Bà đề nghị Tòa án buộc ông T và anh T phải tháo dỡ các công trinh xây dựng trên đất , trả lại đất và giấy chứng nhận quyền sử

̀ dụng đất cho ông bà.

Tòa án nhân dân huyê ̣n T, tỉnh P đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ và định giá thửa đất tranh chấp giữa ông Nguyễn Quyết T và ông Nguyễn Văn H.

Tòa án đã tiến hành hòa giải để các bên thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng các bên vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày, không thỏa thuận được nội dung vụ án.

Tại phiên tòa: Ông Thắng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và trình bày những căn cứ khởi kiện. Bà N, anh T, chị T, cụ T trình bày đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T. Ông H trình bày những căn cứ không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T và yêu cầu phản tố của mình . Bà V trình bày đồng ý với lý do ông H nêu ra tại phiên tòa. Nội dung lời trình bày của các đương sự chi tiết tại biên bản phiên tòa.

Đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân tinh Phủ

́ Tho ̣ tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về viê ̣c tuân theo pháp luâ ̣ t của Hô ̣i đồng xét xử và viê ̣c chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đều thực h iê ̣n đúng quy đi ̣nh của Bộ luậ tố tụng dân sự. Về nô ̣i dung giải quyết vu ̣ án: Sau khi phân tich đánh

́ giá các chứng cứ và lời trình bày của các bên đương sự, đa ̣i diê ̣n Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P đề nghị H ội đồng xét xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của ông Nguyễn Quyết T đề nghị Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 515797 do UBND huyê ̣n T, tỉnh V (Nay là UBND huyê ̣n T, tỉnh P) cấp ngày 10/4/1991 đứ ng tên ông Nguyễn Văn H và buộc ông H phải trả lại diện tích đất 480m2 tại địa chỉ khu 3, xã Hồng Đà, huyê ̣n T, tỉnh Phú Thọ cho ông.

Bác yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Văn H yêu cầu buộc nguyên đơn ông Nguyễn Quyết T cùng con trai là Nguyễn Quyết T phải tháo dỡ các công trinh xây dựng tr ái phép trên đất của ông ; trả lại thửa đất số 150 tờ bản đồ

̀ số 6, diện tích 480m2 tại khu 3 xã H (nay là khu 14 xã D) huyện T và trả lại giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất mà hiện nay ông T đang giữ trái phép (có bài phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh P)

NHẬN ĐI ̣NH CỦ A TÒ A Á N:

Sau khi nghiên cứ u cá c tà i liê ̣u chứ ng cứ có trong hồ sơ vụ á n được thẩm tra tại phiên tò a, căn cứ và o kết quả tranh luận tại phiên tò a trên cơ sở những ý kiến trinh bà y của cá c bên đương sự , ý kiến của đại diệ n VKSND tỉnh P tham

̀ gia phiên tò a, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[I] Về tố tu ̣ng:

[1]. Về quan hê ̣ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án : Nguyên đơn ông Nguyễn Quyết T khởi kiện ông Nguyễn Văn H tại Tòa án nhân dân huyê ̣n T, tỉnh P yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Văn H phải trả lại cho ông quyền sử dụng diện tích đất 480m2 tại địa chỉ khu 3, xã Hồng Đà, huyê ̣n T, tỉnh Phú Thọ và yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A 515797 do UBND huyê ̣n T, tỉnh V (Nay là UBND huyê ̣n T, tỉnh P) cấp ngày 10/4/1991 đứ ng tên ông Nguyễn Văn H. Tòa án nhân dân huyện T đã thụ lý số 47/2019 ngày 10/10/2019, trong quá trình giải quyết vụ việc xét thấy cần phải xem xét tính hợp pháp của việc cấp giấy chứng nhận quyền sử đất mang tên ông Nguyễn Văn H hiện đang tranh chấp. Do vậy, ngày 28/11/2019 Tòa án nhân dân huyê ̣n T đa cõ ́ Quyết đi ̣nh chuyển vu ̣ án dân sự số : 03/2019/TB-TA. Vì vậy theo quy đi ̣nh ta ̣i Điều 26, Điều 34, Điều 37 BLTTDS, Điều 203 Luâ ̣t đất đai Tòa án nhân dân tinh P thụ lý giải quyết vụ án là đ úng thẩm quyền.̉

Quan hệ pháp luật được xác định trong vụ án là “Tranh chấp quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất”.

[2]. Ngườ i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án như ông Đỗ Văn H vắng mă ̣t nhưng có nhưng có đơn xin xử vắng mă ̣t . Những ngườ i làm chứ ng đã có lời khai và xin xét xử vắng mă ̣t. Do vâ ̣y theo quy đi ̣nh của 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án đưa vụ án r a xét xử vắng mă ̣t những ngườ i này .Tòa án cũng đa tiến hã

̀nh lấy lờ i khai của bà Phan Thi ̣ S là người trực tiếp bán tài sản nhưng bà S không hợp tác nên Tòa án đa tiến hã

̀nh lâ ̣p biên bản để làm căn cứ giải quyết.

Tại phiên tòa, mặc dù Hội đồng xét xử không triệu tập những người làm chứng như: Ông Nguyễn Văn Đ, Bà Nguyễn Thị Kim L, ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị Kim D đều có địa chỉ tại thành phố V, tỉnh P (Là anh, chị em ruột cùng cha, mẹ của ông Nguyễn Văn H) đến phiên tòa với tư cách là người làm chứng.

[II] Về nô ̣i dung vụ án.

[1]. Về nguồn gốc thử a đất đang tranh chấp, quá trình quản lý sử dụng và viê ̣c kê khai đăng ký : Căn cứ vào những tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì nguồn gốc thửa đất ông T và ông H đang tranh chấp là của bà Phan Thi ̣ S; đi ̣a chỉ: Khu 3, xã H, huyê ̣n T, tỉnh P.

Tại Bản giao kèo giao tiền mua bán tài sản (BL 123) thể hiện:"...Tôi Phan Thị S nhượng bán tài sản 3 gian nhà gạch làm trên đất do được cấp là 1 sào 4 thước ở Đội 3 cho ông Nguyễn Quyết T đã được cả hai gia đình đồng ý. 2. Và ông Nguyễn Quyết T đã được bố là Nguyễn Kim T đồng ý cho tôi mua tài sản của bà S như đã nói ở trên; 3. Hai bên đã thỏa thuận với nhau là: Trừ đi số bà S nợ tôi con lợn 360 nghìn đồng cộng với 2 nghìn gạch bà S vay tôi còn lại tôi giao lại số tiền mặt là 1.250.000đ(Một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng chẵn) cho bà Soát. Về phần thuế bà S phải đóng; 4. Còn còn Phan Thị S đã nhận đủ số tiền 1.250000đ(Một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng chẵn) và nhận đóng thuế bán tài sản cho ông T..."

Tại biên bản xác minh ngày 07/11/2019 (BL 70) tại UBND xã H (Nay là UBND xa D) thể hiê ̣̃

n “Đối vớ i nguồn gốc thử a đất đang tranh chấp tại thử a số 150, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại khu 3, xã H, huyê ̣n T, tỉnh P có nguồn gốc là của gia đình ông Nguyễn Quyết T mua của bà Phan Thi ̣ S. Sau khi mua đất xong gia đinh ông Nguyễn Quyết T có làm hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử

̀ dụng đất. UBND huyê ̣n Tam Thanh (Nay là huyê ̣n T) đã cấp giấy chứ ng nhận quyền sử dụng đất đứ ng tên ông Nguyễn Văn H ”. Ông T cho rằng từ khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ ông Nguyễn Văn H ông đã nhiều lần yêu cầu cán bộ địa chính xã thời điểm đó là ông Nguyễn Văn N đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông, việc này ông chỉ nói với ông N và không làm đơn gửi UBND xã H.

Tại biên b ản xác minh ngày 21/11/2019 (BL 76) Phòng Tài Nguyên và môi trườ ng Ủy ban nhân dân huyê ̣n T cung cấp“Về viê ̣c cấp Giấy chứ ng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn H ngày 10/4/1991 của Uỷ ban nhân dân huyê ̣n Tam Thanh (Nay là huyê ̣n T). Sau khi kiểm tra hồ sơ lưu trữ tại Phò ng Tà i nguyên và môi trườ ng huyê ̣n T thì hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H là không có bởi lẽ thờ i điểm đó U ỷ ban nhân dân huyê ̣n chỉ cấp Giấy chứ ng nhận quyền sử dụng đất theo danh sá ch do Uỷ ban nhân dân xã gửi lên (Có các hộ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và U ỷ ban nhân dân huyê ̣n căn cứ và o danh sá ch đó để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá c hộ). Đồng thời Uỷ ban nhân dân huyê ̣n vào sổ theo dõi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hiê ̣n vẫn cò n lưu trữ tại phò ng tà i nguyên huyê ̣n T trong đó có hộ ông Nguyễn Văn H ”. Viê ̣c Uỷ ban nhân dân huyện Tam Thanh (Nay là huyê ̣n T) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Nguyễn Văn H đối với thửa đất đang tranh chấp nói trên là theo danh sách do U ỷ ban nhân dân xã gửi lên.

Đối với thửa đất đang tranh chấp theo giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất số A515797, thử a đất số 150, tờ bản đồ số 6, tại địa chỉ: xã H, huyê ̣n T, tỉnh V, đất đứ ng tên ông Nguyễn Văn H có diện tích 480m2 trong quá trình giải quyết vụ việc ông T có những lời khai không được thống nhất như lúc ông T trình bày là do Uỷ ban nhân dân đã cấp nhầm tên (BL 33), lúc thì ông T khai là do con ông còn nhỏ không đứng tên được, nên nhờ ông H đứng tên hộ (BL 189). Tại phiên tòa ông T khai là do có sự nhầm tên ông đã đến Uỷ ban nhân dân xã đề nghị sửa lại tên cho ông, nhưng Uỷ ban nhân dân xã không làm cho ông mà nói rằng đợi đợt sau sẽ làm cho ông (lúc đó ông N là cán bộ địa chính xã) và nếu ông muốn làm thì ông phải nộp tiền vào để sửa chữa tên, do phải nộp thêm tiền nên ông vẫn chưa đề nghị sửa lại tên ông. Đồng thời ông T cũng khai rằng từ khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất nêu trên ông là người nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và lưu giữ từ đó đến nay (ông T nhận từ ông N). Điều này cũng thể hiện, mặc dù lời khai của ông T không thống nhất nhưng nếu không phải là quyền sử dụng đất của ông T mà Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Nguyễn Văn H thì ông T có được lưu giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà không phải là tên của ông từ thời điểm cấp (năm 1991) đến nay không? Trường hợp nếu là quyền sử dụng đất thuộc ông Nguyễn Văn H và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông H thì ông T có thể giữ được trong một thời gian dài (29) năm không? Xét về nguồn gốc thửa đất nêu trên là của ông T mua của bà S, ông T không ở trên thửa đất này từ khi mua bán. Tại thời điểm kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông H là người ở trên diện tích đất này kê khai và được Uỷ ban nhân dân huyện Tam Thanh (nay là huyện T) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi đó công tác đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Uỷ ban nhân dân huyện Tam Thanh (nay là huyện T) thời điểm năm 1991 dựa vào danh sách do Uỷ ban nhân dân xã lập và gửi đến mà không có hồ sơ cụ thể đến từng thửa đất, dẫn tới không có hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn H, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1991 chỉ có sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (BL 237). Như vậy, tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H thì Uỷ ban nhân dân huyện chỉ căn cứ vào danh sách của xã lập lên đề nghị cấp cho các hộ mà không có hồ sơ cụ thể đầy đủ giấy tờ của từng thửa đất. Do vậy, tại thời điểm này ông H là người ở trên thử a đất số 150, tờ bản đồ số 6 xã Hđã kê khai và xã đã lập danh sách đề nghị Uỷ ban nhân dân huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã được Uỷ ban nhân dân huyện Tam Thanh (nay là huyện T) cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất số A515797 vào ngày 10/4/1991 thử a đất số 150, tờ bản đồ số 6, tại địa chỉ: xã H, huyê ̣n T, tỉnh V, đất đứ ng tên ông Nguyễn Văn H có diện tích 480 m2.

Ông H cho rằng thửa đất đang tranh chấp đó thuộc quyền sử dụng đất của ông, tuy nhiên ông H không xuất trình được giấy tờ gì chứng minh nguồn gốc thửa đất nêu trên là của ông. Chỉ có lời khai của bà L, ông M, bà D và ông Đ là anh chị em ruột cùng cha cùng mẹ với ông H đều khai rằng mảnh đất đó là do cụ T (là bố đẻ của các ông, bà) mua cho ông H. Năm 1989 cụ Tcó sang V nói với mẹ của các ông bà là đón ông H, ông Đ về bên đó sẽ lấy vợ và lo làm nhà cho ông H và ông Đ. Nhưng tại phiên tòa và trong quá trình tố tụng cụ Nguyễn Kim T là bố đẻ của ông H và các ông M, bà L, bà D, ông Đ đều thống nhất trình bày không phải cụ mua thửa đất này, mà nguồn gốc thửa đất này là ông T mua của bà S ở khu 3, xã H, cụ không có liên quan và không có gì đóng góp để mua thửa đất này. Các đương sự, bị đơn, Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn có nêu ra ý kiến nghi ngờ tính chân thực của giấy tờ cam kết việc mua bán đất không được lập vào thời điểm năm 1990. Tuy nhiên, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, Luật sư không yêu cầu giám định tính có căn cứ của tờ cam kết này. Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích cho ông H có xuất trình 02 biên bản xác minh qua 02 ông Trưởng khu hành chính là ông Phan Quang N làm trưởng khu thời kỳ 1998 - 2002 và ông Phan Như H là trưởng khu thời kỳ 2002

- 2007, các ông Trưởng khu xác nhận ông H là người đóng thuế đất và thu của ông H. Tại thời điểm đó ông H ở trên đất này, hơn nữa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông H thì lẽ đương nhiên danh sách và phiếu thu phải là tên ông H. Do vậy, việc có tên ông H thực hiện nghĩa vụ nộp thuế với cơ quan nhà nước là đúng theo quy định. Ông H cũng cho rằng năm 2006 vợ chồng ông H có ký bảo lãnh cho khoản vay của con ông Thắng tại Ngân hàng nông nghiệp huyện T. Điều này là đúng với quy định, bởi ông H đang là người đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tại phiên tòa ông H cho rằng ông Thắng mượn của ông năm 2006 và giữ luôn từ đó đến nay, khi hỏi về nguồn gốc thửa đất từ đâu mà ông H có ông H và Luật sư không đưa được những căn cứ chứng minh nguồn gốc thửa đất từ đâu mà có, mà chỉ trình bày là do cụ Nguyễn Kim Thành (là bố của ông) mua cho. Nhưng trong suốt quá trình tố tụng các lời khai và tại phiên tòa cụ T tuổi đã cao nhưng vẫn mạnh khỏe, minh mẫn đều thống nhất trình bày là không phải đất của ông H, cũng không phải đất của cụ mua cho ông H mà nguồn gốc thửa đất là của ông T mua của bà Phan Thị S ở khu 3 xã H (nay là khu 14 xã D). Căn cứ vào tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định thửa đất tranh chấp thuộc quyền quản lý sử dụng của ông T.

Trong quá trình ở trên thửa đất số 150, tờ bản đồ số 06 tại xã H, vợ chồng ông H vẫn ở trên ngôi nhà cấp bốn 3 gian (đã có sẵn ở trên đất) không sửa chữa, xây dựng, cải tạo gì thêm. Trong quá trình lâu không sử dụng đã hỏng. Do vậy, vợ chồng ông H không có công sức trong việc tôn tạo, nâng cấp thửa đất nêu trên.

[2]. Qua lờ i khai của cụ Nguyễn Kim T và những người làm chứng đều thể hiê ̣n : Về nguồn gốc thử a đất ông T và ông H đang tranh chấp là do ông Nguyễn Quyết T mua của bà Phan Thi ̣ S ở khu 3, xã H, huyê ̣n T vào năm 1990. Ông Nguyễn Kim T không đứ ng ra mua cho ông Nguyễn Văn H.

Ngoài ra tại biên bản làm việc về việc giải quyết đơn của công dân lập

ngày 30/7/2013 tại Trụ sở UBND xã H (nay là xa D) (Bút lục 188,189) có nộĩ dung: “Sau khi thống nhất đi đến kết luận về nguồn gốc đất là ông T mua của bà S”. Biên bản có đầy đủ chữ ký của ông Nguyễn Quyết T, ông Nguyễn Văn H, cụ Nguyễn Kim T , trưở ng khu Phan Ngo ̣c A, ghi biên bản Phan Thi ̣ H, Phó Chủ tịch Phan Ngo ̣c C.

[3]. Diê ̣n tich đất tranh chấp theo giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất số

́ A515797, thử a đất số 150, tờ bản đồ số 6, tại địa chỉ: xã H, huyê ̣n T, tỉnh V, đất đứ ng tên ông Nguyễn Văn H có diện tích 480m2 nhưng đo thực tế ngày 07/11/2019 là 511,1 m2 (BL 65 đến 68). Như vâ ̣y diê ̣n tich thử a đất tăng 31,1 m2

́ so vớ i giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất đa cẫ ́p . Vì vậy xác định diện tích đất tranh chấp là 511,1 m2 (Theo biên bản kiểm tra hiê ̣n trạng và biên bản xem xét thẩm đi ̣nh tại chỗ).

Từ [1], [2] và [3] thấy yêu cầu khở i kiê ̣n của ông Nguyễn Quyết T là có căn cứ chấp nhâ ̣n: Buô ̣c ông Nguyễn Văn H phải trả lại cho ông Nguyễn Quyết T quyền sử dụng diện tích đất 480m2 tại đi ̣a chi khu 3, xã H, huyê ̣̉

n T, tỉnh P và yêu cầu Tòa án tuyên hủy giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất số A 515797 do UBND huyê ̣n T, tỉnh V (Nay là UBND huyê ̣n T, tỉnh P) cấp ngày 10/4/1991 đứ ng tên ông Nguyễn Văn H.

[4]. Đối với yêu cầ u phản tố của bị đơn : Buộc nguyên đơn ông Nguyễn Quyết T cùng con trai là Nguyễn Quyết T phải tháo dỡ các công trình xây dựng trái phép trên đất của ông; trả lại thửa đất số 150 tờ bản đồ số 6, diện tích 480m2 tại khu 3 xã H (nay là khu 14 xã D) huyện T và trả lại giấy chứng nhận quyền sử du ̣ng đất mà hiện nay ông Thắng đang giữ trái phép. Hội đồng xét xử thấy rằng: Cụ Nguyễn Kim T là bố đẻ của ông Nguyễn Văn H khẳng đi ̣nh tài sản đang tranh chấp nguồn g ốc là do ông Nguyễn Quyết T mua của bà Phan Thi ̣ S. Giấy tờ mua bán năm 1990 cũng thể hiện việc mua bán là giữa bà Phan Thị S và ông Nguyễn Quyết T.

[5]. Tài sản t rên đất tranh chấp gồm có: 01 nhà ba gian (xây năm 2013) xây ga ̣ch xỉ , mái lợp tôn khung sắt có kich thướ c 7,5m x 9m = 67,5 m2, nền xi

́

măng và 01 sân bê tông, mái lợp tôn có kích thướ c 5m x 9m = 45 m2. Cùng công trình phụ nhà vệ sinh , bếp, bể nướ c. Tổng tri ̣ giá 60.128.900 đồng. Cây cố i trên đất gồm: 04 cây sấu, 01 cây dừ a, 01 cây ổi, 04 cây xoài, 03 cây xoan, 02 cây bưở i, 25 cây chuối, 02 cây sung. Tổng tri ̣ giá là 7.029.6000 đồng. Đây là tài sản do anh Nguyễn Quyết T và chị Quán Xuân T(là con trai và con dâu ông T) xây dựng.

[6]. Đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện Tam Thanh (nay là huyện T) cấp cho hộ ông Nguyễn Văn H, Ủy ban nhân dân huyện T có quan điểm: Thờ i điểm năm 1991 dựa vào danh sách do UBND xa lâ ̣̃ p và gử i đến mà không có hồ sơ cu ̣ thể đến từ ng thử a đất , dẫn đến không có hồ sơ cấp giấy chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất . Hiê ̣n nay, kho lưu trữ của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất không có hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử du ̣ng đấ t cho ông Nguyễn Văn H, đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật. Xét thấy: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Nguyễn Văn H là cấp lần đầu, căn cứ khoản 1 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 là Quyết định hành chính cá biệt. Tòa án xem xét hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A515797 do UBND huyê ̣n T, tỉnh V (Nay là UBND huyê ̣n T, tỉnh P) cấp ngày 10/4/1991 đứ ng tên ông Nguyễn Văn H.

[5]. Về chi phí đo đạc, định giá: Ông Nguyễn Quyết T là nguyên đơn tự nguyện chịu các khoản chi phí, không đề nghị giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đề nghị: + Chấp nhâ ̣n yêu cầu khở i kiê ̣n của ông Nguyễn Quyết T đối vớ i ông Nguyễn Văn H về viê ̣c đòi quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấ y chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất. Buô ̣c ông Nguyễn Văn H phải trả lại cho ông Nguyễn Quyết T 511,1 m 2 đất có giá tri ̣ thành tiền là 536.655.000 đồng (Có sơ đồ hiện trạng kèm theo).

+ Không chấp nhâ ̣n yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn H buô ̣c ông Nguyễn Quyết T phải tháo dỡ các công trình xây dựng trái phép trên đất của ông và trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

[6]. Về án phí Dân sự sơ thẩm: Yêu cầ u của ông T được chấp nhâ ̣n nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ngoài ra ông là ngườ i cao tuổi nên được miễn án phi theo quy

đi ̣nh tại điểm đ Khoản

1 Điều 12 Nghị quyết

́ 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy đi ̣nh về án phi lê ̣ phi Tòa án.

́

́

Yêu cầu phản tố của ông H không được chấp nhâ ̣n nên ông H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

́

QUYÊT ĐI ̣NH:

Căn cứ khoản 3 Điều 690 BLDS năm 1995; Khoản 1 Điều 265, Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 26, Điều 39; khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 165, Điều 166, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 1, Điều 2 Luâ ̣t đất đai năm 1993, Điều 5, Điều 170, khoản 1 Điều 203 Luâ ̣t đất đai 2013; Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH, quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án .Xử :

1. Chấp nhâ ̣n yêu cầu khở i kiê ̣n của ông Nguyễn Quyết T đối vớ i ông Nguyễn Văn H về viê ̣c đòi quyền sử du ̣ng đất và yêu cầu hủy giấ y chứ ng nhâ ̣n quyền sử du ̣ng đất.

2. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số A515797 thử a đất số 150, tờ bản đồ số 6, diê ̣n tich 480m2 tại địa chỉ: xã H, huyện T, tỉnh V đứ ng tên ông

́ Nguyễn Văn H do Uỷ ban nhân dân huyê ̣n T, tỉnh V (Nay là UBND huyê ̣n T, tỉnh P) cấp ngày 10/4/1991.

3. Xác nhận thử a đất số 150, tờ bản đồ số 6, tại địa chỉ: xã H, huyện T, tỉnh V (nay là khu 14, xã D, huyện T, tỉnh P) có diện tích 480m2 (đo thực tế là 511,1 m2 ) thuộc quyền quản lý, sử dụng của ông Nguyễn Quyết T.(Có sơ đồ hiện trạng kèm theo).

4.Không chấp nhâ ̣n yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn H buô ̣c ông Nguyễn Quyết T cùng con trai là Nguyễn Quyết T phải tháo dỡ các công trình xây dựng trên đất của ông; trả lại thửa đất số 150 tờ bản đồ số 6, diện tích 480m2 tại khu 3 xã H (nay là khu 14 xã D) huyện T và trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm:

+ Ông Nguyễn Quyết T được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

+ Ông Nguyễn Văn H phải chịu 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (gồm 300.000 đồng án phí về phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận và 300.000 đồng án phí phần yêu cầu phản tố của bị đơn không được chấp nhận), nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số AA/2019/0004024 ngày 17/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự tỉnh P. Ông Nguyễn Văn H còn phải nộp 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về chi phi đo đ ạc, đi ̣nh giá : Ông Nguyễn Quyết T là nguyên đơn tự

́ nguyện chịu các khoản chi phí, không đề nghị giải quyết.

Trườ ng hợp bản á n được thi hà nh theo quy đi ̣nh tại Điều 2 Luật thi hà nh án dân sự thì người được thi hành án dân sự , ngườ i phải thi hà nh á n dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hà nh á n hoặc bi ̣ cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hà nh á n dân sự ; Thờ i hiê ̣u thi hà nh á n được thực hiê ̣n tại Điều 30 Luật thi hà nh á n dân sự.

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án đương sự có mặt có quyền kháng cáo; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án (hoặc kể từ ngày niêm yết công khai bản án) để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận:

Cỡ chữ