vanban.org

Bản án 14/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn Hữu đối với chị Lê Thị

Buộc chị Lê Thị Hằng phải có trách nhiệm thanh toán trả anh Trần Văn Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, anh Hữu có đơn yêu cầu thi hành Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Dương Thị Hoàn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn Hữu đối với chị Lê Thị
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P
TỈNH THÁI NGUYÊN
Bản án số: 14/2020/DS-ST
Ngày 15 - 7 - 2020
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN P, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Ông Sái Đức Trung

- Các hội thẩm nhân dân: Ông Dương Viết Vĩnh.

Ông Nguyễn Văn Gia.

- Thư ký phiên toà: Bà Trịnh Thị Minh Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện

P, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện VKSND huyện P, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Không

tham gia.

Ngày 15 tháng 7 năm 2020, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện P,

tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý theo thủ tục thông thường số: 04/2020/TLST-DS ngày 20 tháng 01 năm 2020 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2020/QĐXXST - DS, ngày 30 tháng 6 năm 2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Dương Thị H, sinh năm 1957

Địa chỉ: Xóm K, xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt)

Bị đơn: Bà Lê Thị H1, sinh năm 1970

Ông Trần Văn C, sinh năm 1957

Cùng địa chỉ: Xóm K, xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

(Đều có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trong quá

trình giải quyết các đương sự trình bày như sau:

Nguyên đơn bà H1 trình bày: Tôi có quen biết, ở cùng xóm với vợ chồng

ông C, bà H1, khi bà H1 đặt vấn đề nhờ tôi hỏi bà N ở cùng xóm vay hộ 100.000.000 đồng, tôi có giới thiệu bà N với bà H1, sau đó bà N có cho bà H1 vay 100.000.000 đồng, khi viết giấy vay bà N có yêu cầu ông C ký vào giấy, sau đó giữa bà H1 và bà N xảy ra mâu thuẫn cho nên 3 bên thống nhất tại nhà ông C, bà H1 chuyển khoản nợ của bà H1 với bà N sang thành bà H1 nợ tiền tôi số tiền 100.000.000 đồng theo như giấy biên nhận viết ngày 10/5/2019. Khoản tiền vay 48.000.000 đồng là tiền tôi cho vợ chồng ông C, bà H1 vay để bà H1 đóng tiền phường cho cô H L, phường đó tôi có tham gia cùng bà H1. Còn khoản tiền bà H1, ông C nợ 86.000.000đồng thì trong đó 36.000.000 đồng tôi cho bà H1, ông C vay, còn 50.000.000 đồng tôi vay nóng của cô H L để đóng phường giúp cho bà H1. Do bà H1 có trường mầm non tư thục ở Hà Nội nên ít khi ở nhà do vậy khi đến hạn đóng phường bà H1 không có nhà nên nhờ tôi vay đóng giúp. Toàn bộ các khoản đều được viết giấy, bà H1 có trực tiếp viết giấy, ông C đọc cho bà H1 viết ở tại nhà bà H1, ông C. Khi viết có bà H1 nói sau đó sẽ thu xếp trả. Khoản vay bà N 100.000.000 đồng, bà H1 cho trả lãi 02 tháng là 6.000.000 đồng. Sau đó, không trả khoản lãi nào. Đến nay, tôi yêu cầu ông C, bà H1 trả tôi số tiền còn nợ là 234.000.000đ (Hai trăm ba mươi bốn triệu đồng) và không yêu cầu trả lãi suất.

Bị đơn bà H1 trình bày: Đối với khoản nợ 50.000.000 đồng là tiền đóng tiền

phường cho bà H, tôi không chơi phường với bà H L, tôi chỉ biết bà H. Khoản tiền này tôi không vay bà H, tôi cũng không được cầm tiền, bà H yêu cầu tôi viết giấy nợ phường 50.000.000đồng; Đối với khoản 36.000.000đồng tôi cũng không vay, tôi cũng không được cầm tiền mà bà H yêu cầu tôi ghi giấy nợ vay của phường; Đối với khoản 48.000.000 đồng, bà H bảo là tiền đóng phường cho bà H L nhưng chưa đến thời điểm đóng, bà H bảo đóng hộ tôi, tôi không trực tiếp cầm tiền, không vay của bà H nhưng bà H yêu cầu tôi viết giấy nợ vay; Đối với khoản 100.000.000 đồng, bà Hđề nghị chuyển nợ từ bà N (chồng tên là T) sang cho bà H, chứ tôi cũng không vay tiền của bà H, tôi cũng không trực tiếp cầm tiền của bà H. Nhưng bà H yêu cầu tôi viết giấy nợ vay của bà H (giấy chuyển nợ). Khi vay tiền của bà N, bà N có nói là sau này cứ trả tiền lãi cho bà H, bà N không nói lãi cụ thể. Tôi đã nộp tiền lãi cho bà H 02 tháng là 6.000.000 đồng.

Trong các giấy tôi là người trực tiếp giao dịch và ký trước, sau đó một gian

khoảng 03 tháng bà H yêu cầu chuyển chủ nợ từ bà N sang bà H, sau đó yêu cầu chồng tôi là ông C ký vào giấy. Thực tế ông C không giao dịch, không trực tiếp cầm tiền. Do bà H suốt ngày gọi điện yêu cầu nộp phường nên bà H bảo chồng tôi ký, nên tôi bảo chồng tôi ký để bà H không gọi điện bắt nộp phường nữa. Các khoản tiền nợ phường này tôi mất khả năng thanh toán nên đi làm để trả nợ dần cho bà H.

Nay tôi yêu cầu phản tố và buộc bà H trả tôi 100.000.000 đồng mà bà nhận

vay của tôi vào ngày 27/8/2017, tôi đã nhắc nhiều lần nhưng bà H không trả và trả lãi suất theo pháp luật.

Bị đơn ông C trình bày: Hai giấy nợ tiền phường mã 86.000.000đồng và

48.000.000đồng mà bà H yêu cầu bà H1 viết thành giấy nợ vay, là bà H1 viết tại nhà bà H vào khoảng ngày 9,10 tháng 5 năm 2019. Giấy chuyển chủ nợ 100.000.000 đồng từ bà N sang bà H viết tại nhà bà H1 vào khoảng ngày 9, 10 tháng 5 năm 2019. Thời điểm giao dịch tiền giữa bà H1 và bà H diễn ra trước thời điểm ký giấy xác nhận từ 3 -4 tháng nên tôi ký xác nhận bà H1 nợ tiền phường với bà H, mục đích để bà H không réo điện bà H1 nữa để bà H1 yên tâm làm ăn đi làm tích lũy trả dần, chứ không đồng trách nhiệm, tôi không vay tiền bà H, tôi không nợ tiền bà H, tôi cũng không được cầm tiền của bà H nên tôi không có trách nhiệm phải trả tiền cho bà H. Tôi đồng ý kiến của bà H1, đề nghị Tòa án yêu cầu bà H trả 100.000.000 đồng đã nhận của bà H1.

Quá trình giải quyết Toà án đã tiến hành hoà giải, xong các bên vẫn giữ

nguyên quan điểm không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án nên phải đưa vụ án ra xét xử ngày hôm nay.

Tại phiên tòa nguyên đơn bà H vẫn giữ nguyên quan điểm yêu cầu bà H1 và

ông C trả số tiền nợ gốc là 234.000.000 đồng và yêu cầu trả lãi suất là 10%/năm kể từ ngày 10/5/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm 15/7/2020. Về trả lãi 02 tháng là 6.000.000 đồng là bà H1 đã trả cho bà N trước khi bà N chuyển nợ từ bà H1 sang cho tôi. Còn đối với phản tố của bà H1 tôi không đồng ý vì tôi không nợ gì bà H1 100.000.000đồng.

Tại phiên tòa bị đơn bà H1: Tôi thừa nhận có ký vào giấy vay của bà H

234.000.000đồng để đóng tiền phường cho bà H L, chứ không vay tiền của bà H như trình bày nêu trên, bà H1 không đồng ý trả nợ gốc và lãi suất như bà H yêu cầu. Nay tôi yêu cầu bà H phải trả tôi 100.000.000đồng và lãi suất theo pháp luật là 10%/năm kể từ ngày vay nhận tiền 27/8/2017 cho đến ngày 15/7/2020.

Tại phiên tòa bị đơn ông C: Tôi không vay tiền của bà H, tôi không nợ tiền

gì của bà H, cũng không có trách nhiệm phải trả tiền cho bà H. Tôi có ký xác nhận bà H1 nợ tiền bà H, mục đích để bà H không réo điện bà H1 nữa để bà H1 yên tâm làm ăn đi làm tích lũy trả dần, chứ không đồng trách nhiệm, tôi không vay tiền bà H, tôi không nợ tiền bà H, tôi cũng không được cầm tiền của bà H nên tôi không có trách nhiệm phải trả tiền cho bà H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên

tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà H khởi kiện bị đơn bà

H1, ông C cùng địa chỉ: xóm K, xã X, huyện P, tỉnh Thái Nguyên nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn

trả lại số tiền vay 234.000.000đồng theo giấy vay tiền ngày 10/5/2019 cho đến nay bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ dẫn đến phát sinh tranh chấp. Đây là vụ án về tranh chấp hợp đồng dân sự, theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã giao các văn bản tố

tụng cho các đương sự, tiến hành lập biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không thành, các đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết toàn bộ vụ án nên Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

Về nội dung vụ án:

- Xét thấy, quá trình thu thập tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa các đương

sự đã thừa nhận có giao dịch và ký vào giấy vay tiền, ngày 10/5/2019, bà H1 thừa nhận có vay của bà H 234.000.000đồng là để đóng tiền phường cho bà H L, còn ông C thừa nhận có ký xác nhận trách nhiệm vào giấy vay tiền như đã nêu trên và không đồng ý trả khoản tiền này cho bà H. Bà H thừa nhận giấy nhận tiền của bà H1 C ngày 27/8/2017 là chữ ký của bà nhưng cho rằng số tiền này đã trả cho bà H1 nhưng không yêu cầu bà H1 hủy giấy này đi, nay bà khẳng định không nợ gì bà H1 mà chỉ có bà H1 và ông C nợ bà nên bà không đồng ý trả.

+ Xét yêu cầu của nguyên đơn: Bà H đã cho bà H1, ông C vay tiền

234.000.000đồng và ký vào giấy vay tiền ngày 10/5/2019 và có thỏa thuận lãi suất bằng miệng và thực tế bà H1 đã trả lãi suất 02 tháng 6.000.000đồng cho bà H, các bên đương sự đã thừa nhận về lãi suất, bà H khẳng định số tiền cho bà H1, ông C vay có ký nhận tiền, chứ không phải là đóng tiền phường. Bà H đã thực hiện nghĩa vụ của bên cho vay và đã giao tiền tuy nhiên đến hạn trả nợ bà H1 và ông C không thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên vay là vi phạm. Nay, bà H khởi kiện yêu cầu bà H1, ông C phải trả số tiền nợ gốc 234.000.000đồng và phải trả lãi suất 10%/năm đối với số tiền nợ gốc, kể từ ngày 10/5/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm (15/7/2020) là: 14 tháng 05 ngày. Yêu cầu này của bà H là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, nên cần được chấp nhận.

Về lãi suất: Bà H yêu cầu bà H1 và ông C phải trả lãi suất 10%/năm

(0,83%/tháng) đối với nợ gốc 234.000.000đồng, kể từ ngày 10/5/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm là: 14 tháng 05 ngày (234.000.000đ x 0,83%/tháng x 14 tháng 05 ngày) = 27.514.500đ (Hai mươi bảy triệu năm trăm mười bốn nghìn năm trăm đồng).

+ Xét yêu cầu của bị đơn: Bà H1 thừa nhận có ký vào giấy vay tiền của bà H

số tiền là 234.000.000đồng là để đóng tiền phường cho bà H và bà H L số tiền này. Còn ông C chỉ thừa nhận là ký xác nhận khoản vay chứ ông không vay tiền. Nhưng tại phiên tòa, bà H1 chỉ thừa nhận vay tiền để đóng phường, chứ không vay tiền để chi tiêu cho gia đình, còn ông C có thừa nhận ký xác nhận vào giấy vay tiền cho bà H không réo điện thoại để cho bà H1 yên ổn làm ăn và không được nhận tiền mặt, nên không đồng ý trả số tiền này cho bà H. Nhưng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình nên không có căn cứ để chấp nhận.

+ Xét yêu cầu phản tố của bị đơn bà H1: Đối với nguyên đơn bà H, thì ngày

27/8/2017, bà H có vay nhận của bà H1 100.000.000đồng nhưng đến nay chưa trả được đồng nào. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà H cho rằng, bà không nợ bà H1 số tiền này, nhưng bà không chứng minh được là đã trả bà H1 số tiền này. Bà H1 đã thực hiện nghĩa vụ của bên cho vay và đã giao tiền tuy nhiên đến hạn trả nợ bà H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên vay là vi phạm. Nay, bà H1 yêu cầu phản tố bà H phải trả số tiền nợ gốc 100.000.000đồng và phải trả lãi suất 10%/năm đối với số tiền nợ gốc, kể từ ngày 27/8/2017 đến ngày xét xử sơ thẩm 15/7/2020 là 34 tháng 18 ngày. Yêu cầu này của bà H1 là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự. Căn cứ vào Điều 200 Bộ luật tố tụng dân sự nên cần được chấp nhận yêu cầu của bà H1 để bù trừ nghĩa vụ đối với yêu cầu của nguyên đơn bà H.

Về lãi suất: Bà H1 yêu cầu bà H phải trả lãi suất 10%/năm (0,83%/tháng) đối

với nợ gốc 100.000.000đồng, kể từ ngày 27/8/2017 đến ngày xét xử sơ thẩm là: 34 tháng 18 ngày (100.000.000đ x 0,83%/tháng x 34 tháng 18 ngày) = 28.718.00đ (Hai mươi tám triệu bảy trăm mười tám nghìn đồng).

- Xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ; Yêu

cầu phản tố của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ để bù trừ nghĩa vụ của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn, cụ thể: (261.514.500 đồng – 128.718.000 đồng) = 132.796.500đ (Một trăm ba mươi hai triệu bảy trăm chín mươi sáu nghìn năm trăm đồng).

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận

và yêu cầu phản tố của bị đơn được chấp nhận. Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2, khoản 5 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Buộc bà Lê Thị H1 và ông Trần Văn Cg phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có

giá ngạch để sung vào ngân sách Nhà nước như sau: 261.514.500 đ x 5% = 13.075.725 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà Huyền đã nộp.

- Buộc bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch để sung vào ngân

sách Nhà nước như sau: 128.718.000 đ x 5% = 6.435.900 đồng, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy

định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều

39, Điều 144, 147, 200, 235, 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân;

Căn cứ vào Điều 116, 117, 357, 463, 465, 466 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật

dân sự;

Căn cứ khoản 2, khoản 5 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Điều 5 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Thị H.

Về trách nhiệm trả nợ: Buộc bà Lê Thị H1 và ông Trần Văn C phải trả cho

bà Dương Thị H tiền nợ gốc: 234.000.000đ (Hai trăm ba mươi bốn triệu đồng) và lãi suất là: 27.514.500đ(Hai mươi bảy triệu năm trăm mười bốn nghìn năm trăm đồng). Tổng cộng là: 261.514.500đ (Hai trăm sáu mươi mốt triệu năm trăm mười bốn nghìn năm trăm đồng).

2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Lê Thị H1.

Về trách nhiệm trả nợ: Buộc bà Dương Thị H phải trả cho bà Lê Thị H1 tiền

nợ gốc: 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng) và lãi suất là: 28.718.00đ(Hai mươi tám triệu bảy trăm mười tám nghìn đồng). Tổng cộng là: 128.718.500 đ (Một trăm hai mươi tám triệu bảy trăm mười tám nghìn năm trăm đồng).

3. Bù trừ nghĩa vụ của nguyên đơn bà H đối với yêu cầu của bị đơn bà H1 là:

128.718.500đ (Một trăm hai mươi tám triệu bảy trăm mười tám nghìn năm trăm đồng). Buộc bà H1 và ông C còn phải trả cho bà H là: 132.796.500đ (Một trăm ba mươi hai triệu bảy trăm chín mươi sáu nghìn năm trăm đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi

hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Buộc bà Lê Thị H1 và ông Trần Văn C phải chịu: 13.075.725 đồng (Mười

ba triệu không trăm bảy mươi lăm nghìn bảy trăm hai mươi lăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch để sung vào ngân sách Nhà nước, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng), tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Thái Nguyên theo biên lai số: 0000303 ngày 06 tháng 5 năm 2020 và còn phải nộp tiếp 10.575.725đ (Mười triệu năm trăm bảy mươi lăm nghìn bảy trăm hai mươi lăm đồng).

- Buộc bà Dương Thị H phải chịu: 6.435.900đ (Sáu triệu bốn trăm ba mươi

lăm nghìn chín trăm đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch để sung vào ngân sách Nhà nước, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 5.850.000đ (Năm triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Thái Nguyên theo biên lai số: 0001073 ngày 13 tháng 01 năm 2020 và còn phải nộp tiếp 585.900đ (Năm trăm tám mươi lăm nghìn chín trăm đồng).

5. Thông báo về quyền kháng cáo: Có mặt nguyên đơn, bị đơn có quyền

kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên bản án.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ