- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp HĐ tín dụng giữa VBSP - H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Đồng Tháp - Phòng giao dịch huyện Hồng Ngự.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2020/DS-ST Ngày: 02-7-2020 V/v tranh chấp hợp đồng vay |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lương Bằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Tuấn Lam.
2. Bà Ngô Thị Lệ Nga.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Tưởng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý 48/2020/TLST-DS ngày 27 tháng 4 năm 2020, về tranh chấp hợp đồng vay, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2020/QĐXX-ST ngày 12 tháng 6 năm 2020, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam.
Trụ sở: số 169 phố Linh Đường, phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp: Dương Quyết T, chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Hà Xuân B, sinh năm 1978. Chức vụ: Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Hồng Ngự; Địa chỉ: khóm Thượng 1, thị trấn Thường Thới Tiền, huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp. Theo Quyết định số 7300/QĐ-NHCS ngày 19/9/2019 của Tổng giám đốc Ngân hàng Chính sách xã hội về việc ủy quyền tham gia tố tụng và thi hành án. (Có mặt)
2. Bị đơn: Phan Thanh H, sinh năm 1975; Địa chỉ nơi cư trú: ấp x, xã TP1, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện đề ngày 27 tháng 3 năm 2020 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Hà Xuân B, trình bày:
Nguyên vào ngày 18/8/2004, ông Phan Thanh H có vay vốn của Ngân hàng chính Chính sách Xã hội - Phòng giao dịch huyện Hồng Ngự với số tiền 7.000.000 đồng thuộc chương trình cho vay nhà vượt lũ Đồng bằng sông Cửu Long, theo khế ước số 6000005100220039, đến ngày 28/9/2004 thì Ngân hàng giải ngân và chuyển tiền vay trực tiếp cho Công ty Cổ phần Bê tông và Xây dựng VINACONEX 19 (Công ty VINACONEX 19) và hạn trả nợ cuối cùng ngày 12/8/2019. Đến nay món vay trên đã quá hạn, nhưng ông H vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng chính Chính sách Xã hội - Phòng giao dịch huyện Hồng Ngự yêu cầu anh Phan Thanh H trả số tiền vay còn nợ là 9.718.506 đồng, trong đó gốc 7.000.000 đồng, nợ lãi 2.718.506 đồng (lãi tạm tính đến ngày 05/6/2020) và tiếp tục chịu lãi theo khế ước số 6000005100220039 cho đến khi thi hành xong số tiền trên.
Bị đơn ông Phan Thanh H trinh bày: Ông thừa nhận có ký tên vào khế ước vay tiền với Ngân hàng chính sách xã hội và biên bản bàn giao nhà với Công ty VINACONEX 19, nhưng ông không có vay tiền của Ngân hàng và nhận tiền gì của ngân hàng nên ông không có đồng ý trả theo yêu cầu của Ngân hàng.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Về việc nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp buộc ông H trả số tiền 9.718.506 đồng, trong đó gốc 7.000.000 đồng, nợ lãi 2.718.506 đồng (lãi tạm tính đến ngày 05/6/2020) và tiếp tục chịu lãi theo khế ước số 6000005100220039.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng và quan hệ pháp luật: Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp khởi kiện ông Phan Thanh H theo sổ vay vốn mã khách hàng là 5100169420 với mã món vay là 6000005100220039 nên đây là vụ án tranh chấp hợp đồng vay, bị đơn ông Phan Thanh H đang cư trú tại ấp x, xã TP1, huyện HN, tỉnh Đồng Tháp, vì vậy theo khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì đây là vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
Về nội dung: Theo sổ vay vốn, Khế ước vay tiền mua trả chậm nhà ở và Biên bản bàn giao công trình ngày 18/8/2004, sổ lưu theo dõi cho vay - thu nợ - dư nợ ngày 28/9/2004 có mã khách hàng là 5100169420 với mã món vay là 6000005100220039, lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn và các tài liệu khác thì xác định ngày 18/8/2004 ông Phan Thanh H có vay của Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp số tiền vay gốc là 7.000.000 đồng theo diện cho vay nhà vượt lũ, với lãi suất là 0,25%/tháng, đến ngày 28/9/2004 thì Ngân hàng giải ngân và chuyển tiền cho Công ty VINACONEX 19 theo Điều 6 của Khế ước vay tiền mua trả chậm nhà ở và quy định ông Phan Thanh H phải thanh toán cho Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp, thời hạn vay là 10 năm, theo định kỳ trả gốc là 12 tháng trả số tiền 1.400.000 đồng, thời hạn thanh toán cuối cùng là vào ngày 28/9/2014 nhưng đến hạn thanh toán ông Phan Thanh H chưa thanh toán theo đúng cam kết như khế ước vay vốn, mặc dù ngày 28/9/2014 Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp đã có gia hạn thời gian trả nợ nhưng đến thời điểm xét xử ông Phan Thanh H vẫn chưa trả cho Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp phần vốn gốc hay lãi, do vậy căn cứ khế ước vay tiền, biên bản bàn giao công trình và quy định tại Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 thì Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp có khởi kiện yêu cầu thu hồi nợ đối với ông H là có căn cứ. Tuy ông H không thừa nhận có vay tiền của Ngân hàng nhưng ông thừa nhận chữ ký trong Khế ước vay tiền mua trả chậm nhà ở và Biên bản bàn giao công trình ngày 18/8/2004, như vậy đã có đủ căn cứ xác định ông H đã có vay vốn ngân hàng để mua nhà trả chậm và ông cũng thừa nhận từ trước đến nay ông không có thanh toán vốn hay lại gì cho Ngân hàng đối với khoản vay này. Qua ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu của Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử. Cho nên, buộc ông Phan Thanh H trả lại cho Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp số tiền nợ là 9.718.506 đồng, trong đó gốc 7.000.000 đồng, nợ lãi 2.718.506 đồng (lãi tạm tính đến ngày 05/6/2020) và tiếp tục chịu lãi theo khế ước số 6000005100220039.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, quy định: “Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Tòa án chấp nhận”; căn cứ vào điểm b khoản 1.3 Điều 1 Mục II của Danh mục án phí kèm theo Nghị quyết, ông Phan Thanh H chịu toàn bộ án phí của số tiền phải thực hiện nghĩa vụ là 9.718.506 đồng x 5% là 485.000 đồng; Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Đồng Tháp - Phòng giao dịch huyện Hồng Ngự không phải chịu án phí sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 91, 92, 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; các Điều 463, 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự 2015; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Đồng Tháp - Phòng giao dịch huyện Hồng Ngự. Buộc ông Phan Thanh H trả cho Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Đồng Tháp - Phòng giao dịch huyện Hồng Ngự số tiền vay còn nợ là 9.718.506 đồng, trong đó gốc 7.000.000 đồng, nợ lãi 2.718.506 đồng (lãi tạm tính đến ngày 05/6/2020) và tiếp tục chịu lãi theo khế ước số 6000005100220039.
2. Về án phí sơ thẩm:
2.1. Ông Phan Thanh H chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 485.000 đồng.
2.2. Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Đồng Tháp - Phòng giao dịch huyện Hồng Ngự không phải chịu án phí sơ thẩm.
3. Hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Đồng Tháp - Phòng giao dịch huyện Hồng Ngự và ông Phan Thanh H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Đồng Tháp; - VKSND huyện Hồng Ngự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Lương Bằng |