vanban.org

Bản án 14/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng Tuyên án 19/09/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị X đối với bà Lê Thị Kim L về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Buộc bà Lê Thị Kim L có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị X số tiền 450.000.000 đồng (Bốn trăm năm mươi triệu đồng). Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị X đối với bà Lê Thị Kim L về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự HĐXX; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÒA VANG
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2020/DS-ST
Ngày: 19-09-2020
V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Nam

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Duy Cửu

Ông Nguyễn Đình Hùng.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bàng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Trƣơng Công Hòa.

Ngày 19/9/2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 104/2020/TLST-DS ngày 27 tháng 7 năm 2020 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2020/QĐXX-ST ngày 08 tháng 9 năm 2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị X, sinh năm 1965; địa chỉ: thôn T, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

- Bị đơn: Bà Lê Thị Kim L, sinh năm 1967; địa chỉ: thôn P, xã H, huyện H, Tp.Đà Nẵng. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 22/7/2020 và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Thị X trình bày:

Giữa tôi với bà Lê Thị Kim L có mối quan hệ quen biết nên ngày 13/02/2020 tôi có cho bà L mượn số tiền 450.000.000 đồng (Bốn trăm năm mươi triệu đồng), bà L hẹn sẽ trả nợ tôi toàn bộ số tiền trên trong vòng 04 tháng. Tuy nhiên, bà L đã không thực hiện đúng như cam kết, tôi đã nhiều lần liên hệ yêu cầu bà L trả nợ nhưng bà L chây ỳ không chịu trả và còn cố tình trốn tránh đối với tôi. Nay tôi kính đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang buộc bà Lê Thị Kim L phải trả cho tôi toàn bộ số tiền gốc là 450.000.000 đồng (Bốn trăm năm mươi triệu đồng) và tôi không yêu cầu tính lãi.

Tại các phiên hòa giải cũng như tại phiên tòa, bị đơn bà Lê Thị Kim L trình bày:

Tôi thừa nhận có mượn của bà Trần Thị X số tiền 450.000.000 đồng (Bốn trăm năm mươi triệu đồng) để làm ăn, tuy nhiên hiện nay tôi bị thua lỗ nên chưa có tiền để trả, tôi đề nghị được trả cho bà Trần Thị X mỗi ngày 300.000 đồng kể từ nay cho đến khi hết nợ.

Nguyên đơn bà Trần Thị X ý kiến: không chấp nhận phương án trả nợ như bà L đề nghị. Kính đề nghị HĐXX buộc bà L phải trả tôi một lần toàn bộ số tiền 450.000.000 đồng và không yêu cầu tính lãi.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đảm bảo và đúng quy định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Vào ngày 13/2/2020, giữa bà Trần Thị X và bà Lê Thị Kim L có phát sinh giao dịch vay mượn tiền, đến nay giữa bà X và bà L đều xác nhận bà L còn nợ bà X số tiền 450.000.000 đồng (Bốn trăm năm mươi triệu đồng), bà X đã nhiều lần yêu cầu bà L trả số tiền trên nhưng bà L không thực hiện, bà L đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền. Vì vậy, đề nghị HĐXX áp dụng điều 463, điều 466, điều 470 của BLDS, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và buộc bà Lê Thị Kim L phải có nghĩa vụ trả nợ cho bà Trần Thị X số tiền 450.000.000 đồng (Bốn trăm năm mươi triệu đồng).

Tài liệu, chứng cứ của vụ án: Đơn khởi kiện, Giấy nợ ngày 13/2/2020, bản sao Giấy chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu bà X; 01 bản tự khai của bà X; 01 bản tự khai của bà L; 01 biên bản xác minh của Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà HĐXX nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn bà Trần Thị X khởi kiện bị đơn là bà Lê Thị Kim L phải trả số tiền 450.000.000 đồng, bị đơn có địa chỉ nơi cư trú tại huyện Hòa Vang. Do vậy, đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang theo quy định tại Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thời hiệu khởi kiện: Không có đương sự nào có yêu cầu áp dụng thời hiệu, căn cứ khoản 2 Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự HĐXX không áp dụng quy định về thời hiệu trong vụ án này;

Quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Về nội dung vụ án:

Vào ngày 13/02/2020 bà Lê Thị Kim L có vay mượn của bà Trần Thị X số tiền 450.000.000 đồng và hẹn trả trong vòng 04 tháng, khi đến hạn trả nợ bà X đã nhiều lần đòi nợ nhưng bà L không thực hiện đúng như cam kết. Tại phiên tòa hôm nay, bà Trần Thị X yêu cầu bà Lê Thị Kim L trả số tiền 450.000.000 đồng nợ gốc ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, bà X không yêu cầu tính lãi. Còn bà L thừa nhận còn nợ bà X số tiền 450.000.000 đồng. Tuy nhiên, hiện nay kinh tế gia đình khó khăn nên bà Lê Thị Kim L xin trả nợ mỗi ngày 300.000 đồng kể từ tháng 9/2020 cho đến khi hết nợ.

Xét thấy việc vay mượn của các bên đương sự là hoàn toàn tự nguyện, nội dung và hình thức không trái pháp luật nên được pháp luật bảo vệ. Bà X đã thực hiện đúng nghĩa vụ của bên cho vay nhưng bà L đã không thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ của bên vay như thỏa thuận, vì vậy bà L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do đó, căn cứ Điều 463, 466 và 470 của Bộ luật dân sự, HĐXX chấp nhận yêu khởi kiện của bà Trần Thị X, buộc bà Lê Thị Kim L phải trả cho bà Trần Thị X số tiền 450.000.000 đồng mà bà L đã vay mượn của bà X.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị Kim L phải chịu theo quy định của pháp luật là 20.000.000 + (50.000.000đ x 4%) = 22.000.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 463, 464, 465, 466 và 470 của Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 147, 227, 235, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị X đối với bà Lê Thị Kim L về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Tuyên xử:

1. Buộc bà Lê Thị Kim L có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị X số tiền 450.000.000 đồng (Bốn trăm năm mươi triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị Kim L phải chịu 22.000.000 đồng (Hai mươi hai triệu đồng). Hoàn trả cho bà Trần Thị X 11.000.000 đồng (Mười một triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000334 ngày 24/7/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.

3. Án xử công khai sơ thẩm, báo cho các bên đương sự biết có quyền kháng bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 19/9/2020.

4. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ