vanban.org

Bản án 14/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Ngân hàng TMCP VN TV. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Bản án DSST NHVNTV - M"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KRÔNG BÔNG
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2020/DS-ST
Ngày: 30/9/2020
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÔNG, TỈNH ĐẮK LẮK

-

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Huế

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà H Rin Niê: Cán bộ hưu trí

2. Ông Nguyễn Thường : Phó Chủ tịch UBMTTQ Việt Nam huyện

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Tấn Duy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk.

-

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông tham gia

phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Bông xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2020/TLST- DS ngày 18 tháng 02 năm 2020 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07 D /2020/QĐXX-DSST ngày 28 tháng 08 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19A/2020/QĐST-DS ngày 14/9/2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP VN TV ( VP Bank)

Địa chỉ: Số A, phường LH, Quận ĐĐ, Hà Nội

Đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Việt Nam TV .

Đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Thành T – Phó Giám đốc khối pháp chế và kiểm soát tuân thủ , VP bank hội sở.

Đại diện theo ủy quyền : Ông Ngân Xuân T – Chuyên viên xử lý nợ

Địa chỉ liên hệ: Tầng 2, số 296 PXL, phường 7, quận PN, Thành phố Hồ Chí Minh ( có đơn xin xét xử vắng mặt)

Bị đơn: Trần Thị Tuyết M ( vắng mặt không lý do)

Địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn KK, KB, Đăk Lăk

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - ông Ngân Xuân T ( văn bản ủy quyền ngày 30/01/2019) trình bày:

1. Ngày 30/9/2017, bà Trần Thị Tuyết M đã ký kết hợp đồng

tín dụng số LN 1709010220866/BTH/HĐTD với Ngân hàng TMCP

Việt Nam TV chi nhánh TP. HCM – PGD BT, để vay số tiền

637.000.000 đồng (sáu trăm ba bảy triệu đồng), lãi suất tại thời điểm

giải ngân là 10,9%/ năm, lãi suất quá hạn bằng 150 % lãi suất trong

hạn. Thời hạn vay 83 tháng ( từ ngày 30/9/2017 đến ngày 30/8/2024)

.

Tài sản bảo đảm là : 01 chiếc xe ô tô con, nhãn hiệu Ford, loại Focus 1.5 Titanium, số khung: FBAMHBR59076, số máy: M9DCHB59076, biển số: 47A – 203.79 thuộc quyền sở hữu của bà Trần Thị Tuyết M theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 036707 do Phòng CSGT tỉnh Đăk Lăk cấp ngày 29/9/2017.

Tại khế ước nhận nợ ngày 30/9/2017, hai bên đã thỏa thuận : Bên vay trả nợ gốc và nợ lãi cho bên Ngân hàng theo định kỳ 01 tháng / lần vào ngày 19 ( gọi là kỳ trả nợ gốc, lãi), kỳ trả nợ gốc, lãi đầu tiên vào ngày 19/10/2017, tổng cộng 83 kỳ trả nợ, số tiền nợ gốc mà bên vay phải trả mỗi kỳ là 7.675.000 đồng và tiền laĩ phát sinh , riêng kỳ cuối cùng trả dứt nợ vay.

Tại Điều 6 trong hợp đồng tín dụng ngày 30/9/2017 cũng đã thể hiện : bên Ngân hàng có quyền thu hồi nợ trước hạn và xử lý nợ khi bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bất kỳ một Kỳ hạn trả nợ gốc, kỳ trả nợ lãi nào theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng và khế ước nhận nợ.

Tuy nhiên, từ khi vay ( ngày 30/9/2017) cho đến nay , bà Trần Thị Tuyết M mới trả cho Ngân hàng chúng tôi được 14.663.816 đồng tiền gốc , chưa được hai kỳ trả nợ gốc và trả được 4.096.444 đồng tiền lãi. Như vậy, cho đến nay, bà Trần Thị Tuyết M còn nợ Ngân hàng chúng tôi 622.336.184 đồng tiền gốc và nợ lãi phát sinh tạm tính đến ngày 30/9/2020 là 377.800.952 đồng. Tổng cả gốc và lãi tạm tính đến ngày 30/9/2020, bà Trần Thị Tuyết M còn nợ Ngân hàng chúng tôi là 1.000.137.136 đồng.

Do vậy, nay Ngân hàng chúng tôi khởi kiện, đề nghị Tòa án buộc bà Trần Thị Tuyết M phải trả cho Ngân hàng chúng tôi số tiền nợ gốc là 622.336.184 và nợ lãi phát sinh tạm tính đến ngày 30/9/2020 là 377.800.952 đồng. Tổng cả gốc và lãi tạm tính đến ngày 30/9/2020 là 1.000.137.136 đồng. Ngoài ra, chúng tôi còn yêu cầu bà Trần Thị Tuyết M tiếp tục trả lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng từ ngày xét xử cho đến khi trả xong số nợ gốc. Trường hợp bà Trần Thị Tuyết M không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Krông Bông, Đăk Lăk xử lý tài sản bảo đảm của bà Trần Thị Tuyết M để thu hồi nợ cho Ngân hàng.

Tại biên bản xác minh ngày 21/02/2020, Công an thị trấn KK, KB, Đăk Lăk cho biết: Bà Trần Thị Tuyết M có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Tổ dân phố A, thị trấn KK, KB, Đăk Lăk trong hộ khẩu ông Trần Công T ( là cha đẻ của bà Trần Thị Tuyết M ). Hiên nay, bà Trần Thị Tuyết M không có mặt tại địa phương, khi đi bà Trần Thị Tuyết M không làm thủ tục đăng ký tạm vắng tại địa phương.

Cũng tại biên bản xác minh ngày 21/02/2020, ông Trần Công T – cha của bà Trần Thị Tuyết M cho biết: Trần Thị Tuyết M là con đẻ của tôi, vào năm 2010, Trần Thị Tuyết M chung sống với anh Lê Đình Q ( T) tại thôn 4, KNĐ, KB, Đăk Lăk nhưng hộ khẩu vẫn còn đăng ký ở nhà tôi. Hiện nay, Trần Thị Tuyết M và chồng là Lê Đình Q ra ĐN làm ăn, sinh sống tại quận LD – ĐN. Địa chỉ cụ thể, tôi không biết nhưng Trần Thị Tuyết M thường xuyên gọi điện về nhà hỏi thăm gia đình. Ông Trần Công T cam kết sẽ giao các văn bản tố tụng của Tòa án cho Trần Thị Tuyết M thông báo việc Ngân hàng TMCP VN TV khởi kiện đòi nợ Trần Thị Tuyết M .

Tại biên bản xác minh ngày 06/3/2020, Công an xã KNĐ, KB, Đăk Lăk cho biết: Bà Trần Thị Tuyết M cùng chồng là ông Lê Đình Q ( tên gọi khác: T) có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa phương thôn 4, xã KNĐ, KB, Đăk Lăk . Tuy nhiên, từ khoảng tháng 2/2020, bà Trần Thị Tuyết M cùng chồng là Lê Đình Q có làm đơn xin tạm vắng đi làm ăn tại Thành phố ĐN nhưng không ghi rõ địa chỉ nơi tạm trú vì bà Trần Thị Tuyết M và ông Lê Đình Q trình bày là đi ra ĐN tìm việc làm nên chưa xác định được địa chỉ cụ thể ở ĐN.

Tại biên bản làm việc ngày 08/4/2020, ông Trần Công T trình bày: Tôi có nhận được các văn bản của Tòa án về việc triệu tập Trần Thị Tuyết M về Tòa án làm việc nhưng do công việc nên Trần Thị Tuyết M không thể về làm việc tại Tòa án được. Mặt khác, tình hình dịch bệnh Co vid tại ĐN đang diễn biến phức tạp nên Trần Thị Tuyết M không thể về được. Khi tình hình dịch bệnh Covid hết, Trần Thị Tuyết M sẽ về Tòa án làm việc và để thỏa thuận với Ngân hàng TMCP Việt Nam TV về thời gian trả nợ. Mong Ngân hàng tạo điều kiện.

Bà Trần Thị Tuyết M không có mặt tại địa phương, phía Ngân hàng cũng không biết chiếc nay chiếc xe ô tô biển số 47A – 203.79 hiện nay ở đâu nên không thể tiến hành thẩm định chiếc xe được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông phát biểu ý kiến về trình tự, thủ tục của vụ án đã tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật.

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào Nghị án, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Mặc dù, Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, Đăk Lăk đã triệu tập nguyên đơn và bị đơn - bà Trần Thị Tuyết M đến tham gia tố tụng tại phiên toà nhưng đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn - bà Trần Thị Tuyết M vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Đây là lần thứ hai phiên tòa được mở. Do vậy, căn cứ vào Điều 227; Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, Đăk Lăk vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung: Do bà Trần Thị Tuyết M vi phạm Hợp đồng tín dụng số LN 1709010220866/BTH/HĐTD và khế ước nhận nợ đã ký kết với Ngân hàng TMCP Việt Nam TV chi nhánh TP. HCM – PGD BT ngày 30/9/2017 nên việc Ngân hàng TMCP VN TV chi nhánh TP. HCM – PGD BT khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị Tuyết M trả số tiền nợ gốc là 622.336.184 đồng và tiền lãi phát sinh tính đến ngày 30/9/2020 là 377.800.952 đồng. Tổng cả gốc và lãi tạm tính đến ngày 30/9/2020 là 1.000.137.136 đồng. Trường hợp bà Trần Thị Tuyết M không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Krông Bông, Đăk Lăk xử lý tài sản bảo đảm của bà Trần Thị Tuyết M để thu hồi nợ cho Ngân hàng (vì hiện nay theo phiếu trả lời xác minh ngày 01/11/2019 của Đội đăng ký xe Công an tỉnh Đăk Lăk thì xe ô tô biển số 47A – 203.79 , chủ xe vẫn là bà Trần Thị Tuyết M) là phù hợp với quy định của pháp luật. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Việt Nam TV: Buộc bà Trần Thị Tuyết M có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Việt Nam TV số tiền nợ gốc là 622.336.184 đồng và tiền lãi phát sinh tính đến ngày 30/9/2020 là 377.800.952 đồng. Tổng cả gốc và lãi tạm tính đến ngày 30/9/2020 là 1.000.137.136 đồng. 377.800.952 đồng. Buộc bà Trần Thị Tuyết M tiếp tục trả lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng từ ngày xét xử cho đến khi trả xong số nợ gốc. Trường hợp bà Trần Thị Tuyết M không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Krông Bông, Đăk Lăk xử lý tài sản bảo đảm của bà Trần Thị Tuyết M để thu hồi nợ cho Ngân hàng.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn có nghĩa vụ phải nộp tiền án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở lời trình bày của đương sự cũng như qua các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1].Về thủ tục tố tụng: Đây là lần thứ hai phiên tòa được mở nhưng đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – ông Ngân Xuân T đã có đơn xin xét xử vắng mặt và bị đơn – bà Trần Thị Tuyết M vắng mặt không lý do. Mặc dù, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ . Do vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2]. Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại huyện Krông Bông, tỉnh Đăk Lăk.

Ngân hàng TMCP Việt Nam TV yêu cầu Tòa án buộc bà Trần Thị Tuyết M phải trả khoản vay theo hợp đồng tín dụng được ký kết giữa Ngân hàng TMCP Việt Nam TV chi nhánh TP. HCM – PGD BT với bà Trần Thị Tuyết M , đây là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đăk Lăk theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3]. Về nội dung vụ án:

Tại hợp đồng tín dụng số LN 1709010220866/BTH/HĐTD và khế ước nhận nợ ngày 30/9/2017, bà Trần Thị Tuyết M đã ký kết với Ngân hàng TMCP Việt Nam TV, chi nhánh TP. HCM – PGD BT để vay số tiền 637.000.000đ ( sáu trăm ba bảy triệu đồng), lãi suất tại thời điểm giải ngân là 10,9%/ năm, lãi suất quá hạn bằng 150 % lãi suất trong hạn. Thời hạn vay 83 tháng ( từ ngày 30/9/2017 đến ngày 30/8/2024) . Bên vay có nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi ( mỗi kỳ trả nợ gốc là 7.675.000 đồng) và nợ lãi phát sinh định kỳ 01 tháng / lần vào ngày 19, kỳ trả nợ đầu tiên là ngày 19/10/2017.

Tuy nhiên, cho đến nay, đã qua 36 kỳ trả nợ (19/10/2017 đến 19/10/2020) nhưng Trần Thị Tuyết M mới trả cho Ngân hàng được 14.663.816 đồng nợ gốc (chưa bằng 02 kỳ trả nợ gốc) và 4.663.816 đồng tiền lãi.

Do vậy, việc Ngân hàng TMCP VN TV khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị Tuyết M phải trả số nợ gốc là 622.336.184 đồng và tiền lãi phát sinh tạm tính đến ngày 30/10/2020 là 377.800.952 đồng. Tổng cả gốc và lãi tạm tính đến ngày 30/9/2020 là 1.000.137.136 đồng là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

Ngoài ra, bà Trần Thị Tuyết M còn phải tiếp tục chịu trách nhiệm trả lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng số LN 1709010220866/BTH/HĐTD và khế ước nhận nợ ngày 30/9/2017, kể từ ngày 01/10/2020 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc cho phía Ngân hàng.

Trường hợp bà Trần Thị Tuyết M thanh toán hết khoản nợ trên cho Ngân hàng TMCP VN TV thì Ngân hàng có trách nhiệm trả lại: 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 036 mang tên chủ xe Trần Thị Tuyết M.

Trường hợp bà Trần Thị Tuyết M không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ vì hiện nay theo phiếu trả lời xác minh ngày 01/11/2019 của Đội đăng ký xe Công an tỉnh Đăk Lăk thì xe ô tô biển số 47A – 203.79 , chủ xe vẫn là bà Trần Thị Tuyết M.

[4]. Về án phí: Số tiền án phí Dân sự sơ thẩm là 42.004.000 đồng ( tính tròn số). Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn phải chịu toàn bộ án phí Dân sự sơ thẩm là: 42.004.000 đồng .

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; Điều 157; Điều 227; khoản 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 299 và Điều 463 Bộ luật dân sự; Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;

Áp dụng: khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

1. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Ngân hàng TMCP VN TV.

Buộc bà Trần Thị Tuyết M có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP VN TV số tiền nợ gốc là 622.336.184 đồng và tiền lãi phát sinh tạm tính đến ngày 30/10/2020 là 377.800.952 đồng. Tổng cả gốc và lãi tạm tính đến ngày 30/9/2020 là 1.000.137.136 đồng.

Bà Trần Thị Tuyết M còn phải tiếp tục chịu tiền lãi theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số LN 1709010220866/BTH/HĐTD và khế ước nhận nợ ngày 30/9/2017cho đến khi thanh toán xong nợ gốc.

Trường hợp bà Trần Thị Tuyết M thanh toán hết khoản nợ gốc và lãi cho Ngân hàng TMCP VN TV thì Ngân hàng có trách nhiệm trả lại: 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 036 mang tên chủ xe Trần Thị Tuyết M cho bà Trần Thị Tuyết M

Trường hợp bà Trần Thị Tuyết M không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP VN TV có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Tài sản thế chấp là : 01 chiếc xe ô tô con, nhãn hiệu Ford, loại Focus 1.5 Titanium, số khung: FBAMHBR59076, số máy: M9DCHB59076, biển số: 47A – 203.79 thuộc quyền sở hữu của bà Trần Thị Tuyết M theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 036707 do Phòng CSGT tỉnh Đăk Lăk cấp ngày 29/9/2017

2. Về án phí: Bà Trần Thị Tuyết M phải chịu trách nhiệm nộp án phí dân sự sơ thẩm tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Bông, tỉnh Đăk Lăk, số tiền là 42.004.000 đ ( bốn hai triệu không trăm linh bốn ngàn đồng).

Trả lại cho Ngân hàng TMCP VN TV, chi nhánh TP. HCM – PGD BT số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 17.208.000 đồng (mười bảy triệu hai trăm linh tám nghìn đồng) theo biên lai số AA/2017/0006035 ngày 17/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Bông, tỉnh Đăk Lăk.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản bán được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ