vanban.org

Bản án 14/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang Tuyên án 30/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Châu Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Châu Văn N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 06/4/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hâu Văn N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Châu Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TỊNH BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
–––––––––––––––
Bản án số: 14/2019/HS-ST
Ngày: 30-5-2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Nam Phú.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Trần Thanh Hoàng;

- Bà Nguyễn Thị Minh Chuyên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Thanh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Tịnh Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên tham gia phiên tòa:

Bà Trương Bảo Thanh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tịnh

Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 12/2019/TLST-HS

ngày 14 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:

12/2019/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Châu Văn N, Sinh năm: 1972. Nơi sinh: Tri Tôn - An

Giang, Nơi cư trú: khóm X, thị trấn T, huyện T1, tỉnh An Giang; Quốc tịch:

Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Đạo phật; Trình độ học vấn: Không biết

chữ; Nghề nghiệp: Làm thuê; Cha: Châu Văn K, sinh năm: 1933 (chết) và Mẹ:

Đinh Thị Kim H, sinh năm: 1948 (chết); Anh, chị, em ruột: không; Vợ: Nguyễn

Thị Ng, sinh năm: 1977; Con: 02 người (lớn 19 tuổi, nhỏ 12 tuổi).

Tiền án, tiền sự: chưa.

Bị cáo bị tạm giam 06/4/2019, có mặt tại phiên tòa.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Nguyễn Thị Ng, sinh năm

1977. Địa chỉ: khóm X, thị trấn T, huyện T1, tỉnh An Giang, có mặt.

3. Người làm chứng:

3.1. Ông Lê Văn Kh, sinh năm 1969. Địa chỉ: khóm H, thị trấn B, huyện

T1, tỉnh An Giang, vắng mặt.

3.2. Ông Lê Thanh Lâm, sinh năm 1980. Địa chỉ: khóm T, thị trấn B,

huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 06/4/2019, Châu Văn N điều khiển xe môtô biển số

67F5-1195 đi từ Việt Nam sang Campuchia để xem đá gà. Sau đó, N nhờ một người nam (người Khmer, không rõ họ tên, địa chỉ) mua ma túy với số tiền 600.000đ (sáu trăm nghìn đồng); một lúc sau người nam này đưa cho N 01 túi ni lông trong suốt (01 đầu có rãnh khóa) chứa ma túy thì N cho người nam tiền công 100.000đ (một trăm nghìn đồng). Khoảng 16 giờ 20 phút, ngày 06/4/2019, N điều khiển xe về Việt Nam và cất giấu ma túy tại nhà (khóm X, thị trấn T, huyện T1), sau đó N chia ma túy ra để vào nhiều túi ni lông nhỏ (đầu có rãnh khóa). Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, N lấy 01 túi nhỏ ma túy và điều khiển xe đến khu vực ấp Ba Xoài, xã An Cư để sử dụng chung với người bạn tên P (không rõ địa chỉ) thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an huyện Tịnh Biên và Công an xã An Cư kiểm tra phát hiện trên tay trái của N có cầm 01 túi ni lông trong suốt (01 đầu có rãnh khóa) bên trong chứa 0,5421gam ma túy loại Methamphetamine, nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ tang vật và phương tiện có liên quan.

Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Tịnh Biên tiến hành khám xét

khẩn cấp nhà ở của Châu Văn N và thu giữ: 01 túi ni lông trong suốt (01 đầu có rãnh khóa) chứa 0,2395gam Methamphetamine, 01 đoạn ống nhựa trong suốt được hàn kín 02 đầu bên trong có chứa 0,0187gam Metamphetamine, 01 túi ni lông trong suốt có ghi chữ YUNPRO màu xanh dương (01 đầu khóa rãnh, 01 đầu hàn kín) bên trong có chứa 06 viên nén màu nâu nhạt, khối lượng 4,3151gam (không chứa chất ma túy) và 01 túi ni lông trong suốt buộc chặt một đầu bên trong có chứa 5,3554 gam cành, lá, hoa, quả cây cần sa nên lực lượng tiến hành tạm giữ số tang vật trên.

Căn cứ kết luận giám định số: 78/KLGT-PC09 (MT) ngày 09 tháng 04

năm 2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang, kết luận:

- 01 hộp được niêm phong có đóng dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát

điều tra - Công an huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, dấu vân tay màu đỏ ghi tên Châu Văn N và các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn V, Lê Văn K, Lê Thanh L, Lê Thành Đ. Bên trong có 01 túi ni lông trong suốt, một đầu có rãnh khóa, chứa tinh thể màu trắng, khối lượng 0,5421 gam (kí hiệu M1);

- Gói số 01 được niêm phong có đóng dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh

sát điều tra - Công an huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, dấu vân tay màu đỏ ghi

tên Châu Văn N và các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn V, Hồ Văn Đ, Đặng Văn K.

Bên trong có:

+ 01 túi ni lông trong suốt, một đầu có rãnh khóa, chứa tinh thể màu

trắng, khối lượng: 0,2395g (kí hiệu M2);

+ 01 đoạn ống nhựa trong suốt, hàn kín hai đầu, chứa tinh thể màu trắng,

khối lượng: 0,0187g (Kí hiệu M3);

- Gói số 02 được niêm phong có đóng dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh

sát điều tra - Công an huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, dấu vân tay màu đỏ ghi

tên Châu Văn N và các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn V, Hồ Văn Đ, Đặng Văn K.

Bên trong có:

+ 01 túi ni lông trong suốt có chữ YUNPRO màu xanh, một đầu có rãnh

khóa viền màu đỏ, hàn kín, chứa 06 (sáu) viên nén màu nâu, hình bầu dục, khối

lượng: 4,3151 gam (kí hiệu M4);

+ 01 túi ni lông trong suốt được buộc chặt, chứa cành, lá, hoa, quả cây

thảo mộc khô, khối lượng: 5,3554gam (kí hiệu M5).

Tổng mẫu M1 gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có

khối lượng 0,5421 gam; mẫu M2, M3 gửi đến giám định là ma túy, loại

Methamphetamine, có khối lượng 0,2395 gam. Tổng khối lượng là 0,8003 gam

Methamphetamine.

Mẫu M4 gửi đến giám định không phải là ma túy, có khối lượng 4,3151

gam.

Mẫu M5 gửi đến giám định là ma túy, loại Cần sa, có khối lượng 5,3554

gam.

2. Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Ng trình

bày: Giữa bà với bị cáo N là vợ chồng, có hai người con chung, cuộc sống hằng

ngày bị cáo N thường hay đi qua Campuchia để thiến Heo và thỉnh thoảng cũng

có làm thợ sửa xe tại nhà, quá trình sống chung bà Ng phát hiện N sử dụng ma

túy nhưng không nhớ rỏ thời gian nào, loại ma túy gì, từ đâu mà có, mục đích sử

dụng là để giảm đau của căn bệnh thận. Vì sợ chồng bị Nện nên bà có khuyên,

sau này N có sử dụng lại hay không bà không biết. Đến ngày 06/4/2019, N bị

lực lượng Công an bắt về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy thì bà Ng mới

biết; xe mô tô mang biển số 67F5-1195, loại xe Dream, là xe do con gái riêng

của bà tên Ngô Thị Thiên Kim mua tặng cho N để sử dụng. Bà Ng không biết

mua của ai, số tiền bao nhiêu và hiện nay con gái gái Thiên Kim có chồng và

sống tại Campuchia. Trong vụ việc này bà không có yêu cầu gì, bà yêu cầu Hội

đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

3. Những ngƣời làm chứng ông Lê Văn K, Lê Thanh L cùng trình

bày: Vào khoảng 15 giờ, ngày 06/4/2019 ông K thuê ông Lê Thanh L chở đi

vào khu vực xã A, huyện T1 để tìm mua cây kiểng, đến khoảng 17 giờ cùng

ngày ông Kh chở ông Lâm đến khu vực tổ 15, ấp B, xã A, huyện T1 thì thấy lực lượng Công an dừng phương tiện của một người đàn ông điều khiển xe mô tô biển số 67K5-1195, loại xe Dream, màu nho để kiểm tra nên ông K, ông L đến xem thì thấy lực lượng Công an kiểm tra phát hiện trên tay trái của người đàn ông có cầm một túi ni lông trong suốt một đầu có rãnh khóa bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng, sau đó Công an mời người đàn ông và hai ông về trụ sở Công an để làm việc. Tại Cơ quan Công an ông K và ông L nghe người đàn ông khai tên là Châu Văn N, sinh năm 1972, ngụ khóm X, thị trấn T, huyện T1, tỉnh An Giang và khai trong túi ni lông có chứa tinh thể rắn màu trắng là ma túy.

- Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKSTB-HS ngày 13/5/2019 của Viện kiểm

sát nhân dân huyện Tịnh Biên đã truy tố Châu Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố, đề nghị:

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ

luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, tuyên bố bị cáo Châu Văn N phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Châu Văn N từ 01 (một) năm 06

(sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù.

- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự và Điều 106

Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị:

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 hộp được niêm phong (vụ số 78/KLGĐ-PC09 (MT) ngày

09/04/2019) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H, Nguyễn Đăng Kh và Nguyễn Trung S. Bên trong có mẫu M1 còn lại sau khi đã giám định, khối lượng 0,4615gam (không phẩy bốn sáu một năm gam), ký hiệu số 1;

- 01 hộp được niêm phong (vụ số 78/KLGĐ-PC09 (MT) ngày

09/04/2019) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H, Nguyễn Đăng Kh và Nguyễn Trung S. Bên trong có mẫu M2, M3 còn lại sau khi đã giám định, có tổng khối lượng 0,1792gam (không phẩy một bảy chín hai gam), ký hiệu số 2;

- 01 hộp được niêm phong (vụ số 78/KLGĐ-PC09 (MT) ngày

09/04/2019) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H, Nguyễn Đăng Kh và Nguyễn Trung S. Bên trong có mẫu M4, khối lượng 3,5931gam và mẫu M5 còn lại sau giám định, khối lượng 2,5042gam (hai phẩy

năm không bốn hai gam), ký hiệu số 3

- 01 túi ni lông trong suốt một đầu có rãnh khóa viền màu trắng bên trong

có chứa 15 đoạn ống nhựa; 02 túi ni lông trong suốt một đầu có rãnh khóa đã qua

sử dụng và 03 đoạn ống nhựa trong suốt được hàn kín một đầu; 01 hộp giấy

capton màu trắng, không có nắp đậy có chữ OPPO, bên trong có chứa 06 nỏ thủy

tinh đã qua sử dụng; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng; 02 bật lửa đã qua sử

dụng; 01 bình thủy tinh màu nâu đen phía trên có gắn 01 ống thủy tinh; 01 bình

bằng thủy tinh có nắp đậy màu vàng có gắn thêm 01 ống thủy tinh; 01 túi xốp

màu trong suốt bên trong có chứa 15 ống thủy tinh trong suốt.

Tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc:

- 01 điện thoại di động Nokia, màu đen, có gắn 01 thẻ sim (đã qua sử

dụng).

Trả lại cho bị cáo Châu Văn N:

- 01 điện thoại di động Oppo màu đỏ, có gắn 01 thẻ sim (đã qua sử dụng);

- 01 xe mô tô biển số 67F5-1195, nhãn hiệu Dream (đã qua sử dụng); 01

giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 67F5-1195, số 0070952 tên Trương

Thanh D;

- 01 giấy chứng minh nhân dân số 351788573 mang tên Châu Văn N;

- Tiền Việt Nam là 1.350.000đ (một triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân

huyện Tịnh Biên; Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã

thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng

hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo không có ý

kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người

tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng,

người tiến hành tố tụng hợp pháp.

Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Châu Văn N khai nhận toàn bộ hành vi

phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiêm sát đã nêu,

Bị cáo thừa nhận hành của mình là vi phạm pháp luật nên Viện kiểm sát tuy tố

bị cáo không oan; Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám Nệm hiện trường, kết luận giám định và toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Với hành vi tàng trữ trái phép hai chất ma túy nêu trên, đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Châu Văn N phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tịnh Biên truy tố bị cáo Châu Văn N là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại trực tiếp đến khách thể được

pháp luật hình Việt Nam bảo vệ, đó là chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy; bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy là trái phép, sẽ bị Nêm cấm nhưng chỉ vì để thỏa mãn nhu cầu sử dụng của bản thân mà vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là Nêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, vì chất may túy không những trực tiếp hủy hoại sức khỏe con người, làm suy thoái giống nòi, làm mất trật tự an toàn xã hội, an ninh quốc gia, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, làm gia tăng tội phạm trong xã hội. Do vậy cần phải có hình phạt Nêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do bị cáo đã thực hiện, cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Châu Văn

N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu, không có trình độ học vấn nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, quá trình tố tụng bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 thì Người phạm tội

còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có việc làm ổn định nên Hội đồng xét xử miễn phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng: Áp đụng Điều 47, Đ48 của Bộ luật hình sự năm 2015,

được sửa đổi bổ sung năm 2017, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Đối với các mẫu vật còn lại sau khi giám định gồm:

- 01 hộp được niêm phong (vụ số 78/KLGĐ-PC09 (MT) ngày

09/04/2019) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ , Nguyễn

Đăng Kh và Nguyễn Trung S. Bên trong có mẫu M1 còn lại sau khi đã giám

định, khối lượng 0,4615gam (không phẩy bốn sáu một năm gam), ký hiệu số 1;

- 01 hộp được niêm phong (vụ số 78/KLGĐ-PC09 (MT) ngày

09/04/2019) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an

huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H,

Nguyễn Đăng Kh và Nguyễn Trung S. Bên trong có mẫu M2, M3 còn lại sau khi

đã giám định, có tổng khối lượng 0,1792gam (không phẩy một bảy chín hai

gam), ký hiệu số 2;

- 01 hộp được niêm phong (vụ số 78/KLGĐ-PC09 (MT) ngày

09/04/2019) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an

huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H,

Nguyễn Đăng Kh và Nguyễn Trung S. Bên trong có mẫu M4, khối lượng

3,5931gam và mẫu M5 còn lại sau giám định, khối lượng 2,5042gam (hai phẩy

năm không bốn hai gam), ký hiệu số 3

- 01 túi ni lông trong suốt một đầu có rãnh khóa viền màu trắng bên trong

có chứa 15 đoạn ống nhựa; 02 túi ni lông trong suốt một đầu có rãnh khóa đã qua

sử dụng và 03 đoạn ống nhựa trong suốt được hàn kín một đầu; 01 hộp giấy

capton màu trắng, không có nắp đậy có chữ OPPO, bên trong có chứa 06 nỏ thủy

tinh đã qua sử dụng; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng; 02 bật lửa đã qua sử

dụng; 01 bình thủy tinh màu nâu đen phía trên có gắn 01 ống thủy tinh; 01 bình

bằng thủy tinh có nắp đậy màu vàng có gắn thêm 01 ống thủy tinh; 01 túi xốp

màu trong suốt bên trong có chứa 15 ống thủy tinh trong suốt.

Xét thấy chất ma túy là loại chất gây Nện rất nguy hiểm mà pháp luật cấm

tàng trữ, lưu hành nên cần phải tịch thu toàn bộ để tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động Nokia, màu đen, có gắn 01 thẻ sim (đã

qua sử dụng); 01 điện thoại di động Oppo màu đỏ, có gắn 01 thẻ sim (đã qua sử

dụng); 01 xe mô tô biển số 67F5-1195, nhãn hiệu Dream (đã qua sử dụng); 01

giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 67F5-1195, số 0070952 tên Trương

Thanh D; 01 giấy chứng minh nhân dân số 351788573 tên Châu Văn N và tiền

Việt Nam 1.350.000đ (một triệu ba trăm mươi nghìn đồng) thu giữ của bị cáo

không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo Châu Văn N.

Từ những nhận xét nêu trên cũng như qua tranh luận tại phiên tòa. Xét

thấy, trong quá trình điều tra, truy tố các hành vi, quyết định của Điều tra viên,

Kiểm sát viên thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng quy định. Vì vậy, đề nghị

của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận.

Về án phí: bị cáo Châu Văn N phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn

đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Châu Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51,

Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017;

1. Xử phạt bị cáo Châu Văn N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian

chấp hành tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 06/4/2019.

2. Về vật chứng: Áp đụng Điều 47, Đ48 của Bộ luật hình sự, Điều 106

của Bộ luật tố tụng hình sự:

2.1. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ gồm:

- 01 hộp được niêm phong (vụ số 78/KLGĐ-PC09 (MT) ngày

09/04/2019) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H, Nguyễn Đăng Kh và Nguyễn Trung S. Bên trong có mẫu M1 còn lại sau khi đã giám định, khối lượng 0,4615gam (không phẩy bốn sáu một năm gam), ký hiệu số 1;

- 01 hộp được niêm phong (vụ số 78/KLGĐ-PC09 (MT) ngày

09/04/2019) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H, Nguyễn Đăng Kh và Nguyễn Trung S. Bên trong có mẫu M2, M3 còn lại sau khi đã giám định, có tổng khối lượng 0,1792gam (không phẩy một bảy chín hai gam), ký hiệu số 2;

- 01 hộp được niêm phong (vụ số 78/KLGĐ-PC09 (MT) ngày

09/04/2019) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H, Nguyễn Đăng Kh và Nguyễn Trung S. Bên trong có mẫu M4, khối lượng 3,5931gam và mẫu M5 còn lại sau giám định, khối lượng 2,5042gam (hai phẩy năm không bốn hai gam), ký hiệu số 3

- 01 túi nylon trong suốt một đầu có rãnh khóa viền màu trắng bên trong có

chứa 15 đoạn ống nhựa; 02 túi nylon trong suốt một đầu có rãnh khóa đã qua sử dụng và 03 đoạn ống nhựa trong suốt được hàn kín một đầu; 01 hộp giấy capton màu trắng, không có nắp đậy có chữ OPPO, bên trong có chứa 06 nỏ thủy tinh đã qua sử dụng; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng; 02 bật lửa đã qua sử dụng; 01 bình thủy tinh màu nâu đen phía trên có gắn 01 ống thủy tinh; 01 bình bằng thủy tinh có nắp đậy màu vàng có gắn thêm 01 ống thủy tinh; 01 túi xốp màu trong suốt bên trong có chứa 15 ống thủy tinh trong suốt.

2.2. Trả lại cho bị cáo Châu Văn N gồm: 01 điện thoại di động Nokia, màu

đen, có gắn 01 thẻ sim (đã qua sử dụng); 01 điện thoại di động Oppo màu đỏ, có gắn 01 thẻ sim (đã qua sử dụng); 01 xe mô tô biển số 67F5-1195, nhãn hiệu

Dream (đã qua sử dụng); 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 67F5-

1195, số 0070952 tên Trương Thanh D; 01 giấy chứng minh nhân dân số

351788573 tên Châu Văn N và tiền Việt Nam 1.350.000 đồng.

(Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 16/5/2019

giữa Cơ quan Điều tra Công an huyện Tịnh Biên với Chi cục thi hành án dân sự

huyện Tịnh Biên).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố

tụng hình sự; Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 3, Khoản 1 Điều 21; Điểm a

Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu,

miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng

12 năm 2016. Buộc bị cáo Châu Văn N phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn

đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo và đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền

kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ