vanban.org

Bản án 14/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 05/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn L - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN G
TỈNH N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2019/HS - ST
Ngày 05 tháng 3 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN G, TỈNH N

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Q.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Công H, ông Đinh Duy Q.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Thị H - Thư ký Toà án nhân dân huyện G, tỉnh N.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G, tỉnh N tham gia phiên toà: ông Trần Thanh H - Kiểm sát viên.

Ngày 05/03/2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện G, tỉnh N, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2019/TLST - HS ngày 31/01/2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2019/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 02 năm 2019, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Văn L, Sinh năm: 1973 tại xã G, huyện G, tỉnh N. Trú tại: thôn T, xã G, huyện G, tỉnh N. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; con ông Lê Văn T và bà Vũ Thị T; có vợ là Phạm Thị Thu H và có 05 con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2016. Tiền án, tiền sự: Không.

Biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

Bị cáo bị tạm giữ 02 ngày từ ngày 06/01/2019 đến ngày 08/01/2019. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền, lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Nguyễn Anh V, sinh năm 1993. Vắng mặt

2. Anh Đào Văn Q, sinh năm 1985. Vắng mặt

Đều trú tại: Thôn 7, xã P, huyện N, tỉnh N.

Người làm chứng: Nguyễn Trung T. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Lê Văn L là lao động tự do, nhận thấy việc ghi bán số lô, số đề thu lợi nhuận cao nên khoảng đầu tháng 01/2019, L đã ghi bán số lô, số đề cho người chơi sau đó tự tính và thanh toán tiền thắng thua với khách kiếm lời. Cách thức chơi số lô, số đề dựa trên kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng trong ngày, cụ thể. Số đề 2 số là người chơi mua các cặp số bất kỳ từ 00 đến 99 so sánh với hai số cuối của giải đặc biệt kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng trong ngày, nếu trúng thưởng thì người chơi hưởng số tiền gấp 70 lần số tiền đã bỏ ra mua; số đề 3 số là người chơi mua các cặp số bất kỳ từ 000 đến 999, so sánh với ba số cuối của giải đặc biệt kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng trong ngày, nếu trúng thưởng thì người chơi hưởng số tiền gấp 400 lần số tiền đã bỏ ra mua. Đối với số lô N B là các cặp số từ 00 đến 99 (Cứ một điểm lô N B tương ứng với số tiền người chơi phải bỏ ra là 20.000 đồng), được so sánh với hai số cuối của 27 giải, từ giải đặc biệt đến hết giải 7 của kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng trong ngày, nếu trúng thưởng thì được hưởng theo tỷ lệ số điểm lô N B x 70.000 đồng (Bẩy mươi nghìn đồng) nhân số lần trúng thưởng, nhưng không quá hai lần. Đối với số lô H N là các cặp số từ 00 đến 99 (Cứ một điểm lô H N tương ứng với số tiền người chơi phải bỏ ra là 23.000 đồng), được so sánh với hai số cuối của 27 giải, từ giải đặc biệt đến hết giải 7 của kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng trong ngày, nếu trúng thưởng thì được hưởng theo tỷ lệ số điểm lô H N x 80.000 đồng (Tám mươi nghìn đồng) nhân số lần trúng thưởng (Không giới hạn số lần trúng thưởng); số lô xiên 3 số (lô xiên 3), người mua ba cặp số bất kỳ từ 00 đến 99 được so sánh với hai số cuối của 27 giải từ giải đặc biệt đến hết giải 7 của kết quả xổ số mở thưởng trong ngày, nếu trúng thưởng thì được gấp 40 lần số tiền bỏ ra mua. Nếu không có người chơi nào trúng thưởng lô, đề thì bị cáo được hưởng toàn bộ số tiền những người chơi đã bỏ ra mua.

Khoảng 17 giờ 30 ngày 06/01/2019, Nguyễn Anh V, sinh năm 1993 và Đào Văn Q, sinh năm 1985 đều trú tại thôn 7, xã P, huyện N, tỉnh N đến quầy bán hàng tạp hóa của gia đình Lê Văn L, mục đích để ghi lô đề. Thấy L đang đứng ở quầy bán hàng thì V nói với L “ghi cho em con lô”, L hỏi “con gì” V đáp “con lô bảy tám”(lô Hà Nội). L đồng ý, V mua số lô, số đề với tổng số tiền là 1.000.000 đồng, V trả cho L số tiền là 1.000.000 đồng; Lập dùng bút bi mực màu đen ghi các số lô V mua vào sổ tổng hợp số lô, số đề rồi viết vào một tờ giấy nhỏ được cắt ra từ vỏ bao thuốc lá Điện Biên có kích thước 6x4cm (gọi là cáp số lô, đề) đưa cho V. Sau khi V và L mua bán số lô, đề xong thì Đào Văn Q đến nói với L ghi cho Q số lô Hà Nội là số 63,52 mỗi số là 50 điểm, số lô Hà Nội 68,56 mỗi số là 30 điểm, số đề 63,52,68 mỗi số là 200.000 đồng với tổng số tiền Quân mua số lô đề của lập là 4.280.000 đồng, Lập ghi các số lô, đề vào 03 mảnh giấy cắt ra từ vỏ bao thuốc lá Điện Biên đưa cho Q. Do ngày 05/01/2019, Q mua số lô, đề của L thắng 800.000 đồng nên Q và L đối trừ đi số tiền 800.000 đồng. Q phải trả cho L 3.480.000 đồng. Khi Q vừa lấy 3.500.000 đồng chưa kịp đưa cho L thì cùng lúc này tổ công tác Công an huyện G phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trong người Lê Văn L số tiền 1.000.000 đồng vừa bán số lô, đề; 01 bút bi mực mầu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5 màu đen, vỏ ốp nhựa màu trắng; 01 cuốn sổ nhãn hiệu Hồng Hà ghi tổng hợp các số lô, số đề, 03 mảnh bìa cắt ra từ vỏ hộp thuốc lá Điện Biên kích thước đều là 6 x 4cm, 03 mảnh bìa cắt ra từ vỏ hộp thuốc lá Thăng Long kích thước đều là 9 x 5cm, 01 cáp số lô, số đề ngày 05/01/2019 cắt ra từ vỏ hộp thuốc lá Thăng Long kích thước 9 x 5cm. Ngoài ra còn thu giữ của Đào Văn Q 03 cáp số lô, đề Q mua của L ngày 06/01/2019 (trong đó: 01 cáp ghi số tiền là 2.300.000 đồng; 01 cáp ghi số tiền là 1.380.000 đồng; 01 cáp ghi số tiền là 600.000 đồng) kích thước đều là 6 x 4cm, số tiền 3.500.000 đồng; Thu giữ của Nguyễn Anh V 01 cáp số lô kích thước là 6 x 4cm V mua của L ngày 06/01/2019 với số tiền ghi trong cáp là 1.000.000 đồng. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Văn L, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G không thu giữ gì thêm.

Quá trình điều tra xác định ngày 06/01/2019, L bán số lô, số đề cho Văn và Q bị bắt trước khi có kết quả xổ số miền Bắc trong ngày nên tổng số tiền L đánh bạc với V và Q ngày 06/01/2019 là 5.280.000 đồng gồm: số tiền Nguyễn Anh V sử dụng vào mục đích đánh bạc là 1.000.000 đồng và số tiền Đào Văn Q sử dụng vào mục đích đánh bạc là 4.280.000 đồng.

Cơ quan điều tra Công an huyện G đã trả lại 20.000 đồng cho Đào Văn Q, trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5 mầu đen vỏ ốp mầu trắng lắp số thuê bao 0388616079 cho Lê Văn L.

Viện kiểm sát nhân dân huyện G đã ra quyết định chuyển 01 bút bi mực mầu đen là vật chứng của vụ án, đến kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G, chuyển số tiền 4.480.000 đồng đến tài khoản tạm gửi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G.

Tại bản Cáo trạng số 17/CT-VKS-GV ngày 29/01/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện G đã truy tố Lê Văn L ra trước Tòa án nhân dân huyện G để xét xử về tội “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa bị cáo Lê Văn L và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại gì về Bản cáo trạng.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G thực hành quyền công tố tại phiên tòa, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung Bản cáo trạng. Sau khi luận tội, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn L phạm tội “Đánh bạc”; căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt Lê Văn L từ 20 triệu đồng đến 21 triệu đồng; Tịch thu tiêu hủy 01 bút bi mực màu đen, tịch thu xung quỹ nhà nước số tiền 4.480.000 đồng, truy thu của Lê Văn L để nộp ngân sách Nhà nước số tiền 800.000 đồng.

Tại phiên tòa bị cáo nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì. Được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện G, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo hoàn toàn nhận tội. Lời nhận tội của bị cáo cùng các chứng cứ khác thể hiện: Xuất phát từ việc muốn kiếm tiền bất chính, nên Lê Văn L nhận thấy việc ghi bán số lô, số đề thu lợi nhuận cao nên khoảng đầu tháng 01/2019, L đã tự mình ghi bán số lô, số đề cho người chơi sau đó tự tính và thanh toán tiền thắng thua với khách kiếm lời. Cách thức chơi số lô, số đề dựa trên kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng trong ngày đúng như Bản cáo trạng đã mô tả nêu trên.

Các chứng cứ đã xác định rõ: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 06/01/2019, Lê Văn L đã ghi số lô, số đề chơi với Nguyễn Anh V tổng số tiền là 1.000.000 đồng, và Đào Văn Q số tiền 3.480.000 đồng. Trong lúc L và Q đang mua bán số lô, số đề thì bị tổ công tác Công an huyện G phát hiện bắt quả tang. Thu giữ số tiền 4.500.000 đồng(của L 1.000.000 đồng, của Q 3.500.000 đồng). Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã xác định rõ ngày 06/01/2019, L bán số lô, số đề cho V và Q với tổng số tiền là 5.280.000 đồng gồm: số tiền Nguyễn Anh V sử dụng vào mục đích đánh bạc là 1.000.000 đồng và số tiền Đào Văn Q sử dụng vào mục đích đánh bạc là 4.280.000 đồng. Mở rộng điều tra, Cơ quan điều tra đã làm rõ ngày 05/01/2019 Lê Văn L ghi số lô, số đề cho Đào Văn Q với số tiền là 1.100.000 đồng.

Rõ ràng bị cáo đã tự đứng ra tổ chức chơi lô, đề ¨n tiÒn. Lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai người có quyền lợi liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo L đã phạm tội “Đánh bạc”. Căn cứ vào tính chất, mức độ, nhân thân của bị cáo và số tiền bị cáo đã sử dụng vào việc đánh bạc, Viện kiểm sát nhân dân huyện G truy tố bị cáo Lê Văn L theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, an toàn công cộng được pháp luật hình sự bảo vệ.

Đánh bạc đang là một tệ nạn nguy hiểm, bị gia đình, xã hội lên án, Nhà nước ta đang ra sức loại trừ. Vì đánh bạc mà nhiều gia đình bị khánh kiệt, nợ nần chồng chất, nó cũng là nguyên nhân gây nên một loạt các loại tội phạm khác. Bị cáo đã trưởng thành, đáng lẽ bị cáo chăm lo làm ăn lương thiện, ngược lại bị cáo lại tham gia đánh bạc kiếm tiền bất chính. Hành vi của bị cáo bị chính gia đình bị cáo lên án, làm ảnh hưởng đến an ninh, trật tự trên địa bàn. Vì vậy, cần phải có biện pháp xử lý thật nghiêm minh, tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra, mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và nâng cao công tác phòng ngừa chung, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

. Bị cáo Lê Văn L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Đây là các tình tiết được quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà chỉ cần áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo L là phù hợp pháp luật.

. Về xử lý tài sản tạm giữ và vật chứng:

Đối với số tiền trong đó 4.480.000 đồng thu giữ của bị cáo L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là số tiền bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Do bị cáo L đã sử dụng số tiền là 5.280.000 đồng vào mục đích đánh bạc nên cần truy thu của bị cáo L số tiền 800.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 mảnh bìa cắt ra từ vỏ hộp thuốc lá Điện Biên kích thước 6 x 4cm dùng làm cáp số lô, số đề bán cho Nguyễn Anh V ngày 06/01/2019, 01 mảnh bìa cắt ra từ vỏ hộp thuốc lá Thăng Long kích thước 9 x 5cm có ghi các số lô, đề ngày 05/01/2019, 03 mảnh bìa cắt ra từ vỏ hộp thuốc lá Điện Biên kích thước 6 x 4cm dùng làm cáp số lô, số đề L bán cho Đào Văn Q ngày 06/01/2019, 03 mảnh bìa cắt ra từ vỏ hộp thuốc lá Điện Biên kích thước 6 x 4cm, 03 mảnh bìa cắt ra từ vỏ hộp thuốc lá Thăng Long kích thước 9 x 5cm, 01 cuốn sổ nhãn hiệu Hồng Hà ghi tổng hợp các số lô, số đề là chứng cứ của việc phạm tội nên được lưu trong hồ sơ vụ án là đúng pháp luật. Đối với 01 bút bi mực màu đen là công cụ sử dụng vào việc phạm tội không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 4.480.000 đồng (trong đó 1.000.000 đồng thu của Lê Văn L và số tiền 3.480.000 đồng của Đào Văn Q) là số tiền Lập cùng các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Đối với số tiền 20.000 đồng(trong tổng số tiền 3.500.000 đồng thu giữ của Đào Văn Q) không liên quan đến tội phạm nên Cơ quan điều tra Công an huyện G đã trả lại cho Đào Văn Q là phù hợp.

Ngoài bán số lô, số đề cho Nguyễn Anh V và Đào Văn Q ngày 06/01/2019 thì Lê Văn L còn có hành vi mua bán số lô, đề cho Đào Văn Q vào ngày 05/01/2019. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra xác minh thì ngày 05/01/2019 Đào Văn Q ghi số lô, số đề của Lê Văn L với số tiền là 1.100.000 đồng. Tuy nhiên, do số tiền L và Q sử dụng vào mục đích đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, bản thân L và Q chưa có tiền án, tiền sự về tội “Đánh bạc”, “Tổ chức đánh bạc” hoặc “Gá bạc” nên Lê Văn L và Đào Văn Q không phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi mua bán số lô, đề vào ngày 05/01/2019. Ngoài ra Lê Văn L còn thực hiện hành vi bán số lô, số đề cho người đi đường trong các ngày 01/01/2019; 02/01/2019; 03/01/2019; 04/01/2019 nhưng trong quá trình điều tra xác minh không xác định được tên tuổi địa chỉ của những người này. Do đó không có căn cứ để xử lý. Trong vụ án này, Nguyễn Anh V và Đào Văn Q có hành vi mua bán số lô, đề với Lê Văn L trong ngày 06/01/2019. Tuy nhiên, số tiền trong ngày đánh bạc bằng hình thức ghi lô đề của Nguyễn Anh V và Đào Văn Q với Lê Văn L, bản thân Nguyễn Anh V và Đào Văn Q đều chưa có tiền án về tội đánh bạc, tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc nên hành vi nêu trên Nguyễn Anh V và Đào Văn Q không phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án này.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo Bản án theo luật định.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Lê Văn L phạm tội "Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo Lê Văn L 20.000.000 đồng(Hai mươi triệu đồng).

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 4.480.000 đồng.

- Truy thu của bị cáo Lê Văn L số tiền 800.000 đồng dùng vào việc đánh bạc để nộp ngân sách Nhà nước.

- Tịch thu tiêu hủy 01 bút bi mực đen.

Đặc điểm chi tiết các vật chứng theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 30/01/2019, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G và Chi cục Thi hành án dân sự huyện G.

Người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

3. Về án phí:

Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Lê Văn L phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ