vanban.org

Bản án 14/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi Tuyên án 22/03/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Bùi Thanh V, Nguyễn Chí Q phạm tội “Tàng trữ trái

phép chất ma túy”. Về điều luật áp dùng và hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Thanh Vương, Nguyễn Chí Quyết phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. - phạm tội tàng t…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Bùi Thanh V, Nguyễn Chí Q phạm tội “Tàng trữ trái
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TAND HUYỆN BÌNH SƠN
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:14/2019/HS – ST
Ngày 22/3/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đình Chung;

Các Hội thẩm nhân dân:1/ Ông Đặng Bên

2/Ông Bùi Tấn Ba

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quang Bình – Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi

tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 3 năm 2019, tại Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Q xét xử sơ

thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2019/TLST – HS ngày 21 tháng 12 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2019/QĐXXST – HS ngày 22 tháng 02 năm 2019 đối với các bị cáo:

1. Bùi Thanh V, sinh năm 1996, tại tỉnh Q; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn L,

xã B, huyện B, tỉnh Q; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn 8/12; dân tộc kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Th, sinh năm 1967 và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1969; tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 29/8/2018 bị Tòa án nhân dân huyện B xử phạt 54 tháng tù

về các tội “Gây rối trật tự công cộng”, “ Cố ý gây thương tích” (bản án số 26/2018/HS –ST).

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 17/7/2018, bị cáo đang giam có mặt tại phiên

tòa.

2. Nguyễn Chí Q, sinh năm 1996, tại tỉnh Q; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm

M, thôn L, xã B, huyện B, tỉnh Q; Nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn 12/12; dân tộc kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn S, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1972; tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 29/8/2018 bị Tòa án nhân dân huyện B xử phạt 12 tháng tù

về tội “Gây rối trật tự công cộng” (bản án số 26/2018/HS –ST).

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/7/2018, bị cáo đang giam có mặt tại phiên

tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Bùi Ngô Thúy L, sinh năm 1985; trú tại: Tổ dân phố 6, thị trấn C,

huyện B, tỉnh Q (vắng mặt).

- Chị Nguyễn Thị T, sinh ngày 7 tháng 9 năm 2002; trú tại: Thôn L, xã B,

huyện B, tỉnh Q (vắng mặt).

Người đại diện hợp pháp cho chị Nguyễn Thị T: Bà Nguyễn Thị Tố N –

Chức vụ: Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện B, tỉnh Q (vắng mặt).

- Ông Nguyễn S, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1972; trú

tại: Thôn L, xã B, huyện B, tỉnh Q (ông S có mặt, bà H vắng mặt).

Người làm chứng:

- Anh Nguyễn Ngọc T, sinh năm 2001; trú tại: Đội 12, thôn L, xã B, huyện

B, tỉnh Q (vắng mặt).

- Bà Trần Thị L, sinh năm 1970; trú tại: Thôn P, xã B, huyện B, tỉnh Q (vắng

mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Vào đầu tháng 6/2018, Bùi Thanh V, sinh năm 1996 ở xã B, Bình S, tỉnh Q

cùng với Huỳnh Anh V thuê 02 phòng trọ liền kề nhau của bà Bùi Ngô Thúy L ở xóm C, thôn P, xã B, huyện B để ở trọ nên Nguyễn Văn Th hay ghé đến chơi và ở lại. Sáng ngày 12/7/2018, Huỳnh Anh V nhờ Nguyễn Văn Th chở đi vào thành phố Q có việc, đến khoảng 14 giờ cùng ngày thì về đến phòng trọ. Lúc này Bùi Thanh V qua phòng trọ của Huỳnh Anh V chơi thì thấy Huỳnh Anh V và Nguyễn Văn Th ở đó. Huỳnh Anh V nói với Bùi Thanh V “Lát tao đưa hàng (ma túy đá), mày phân nhỏ ra thành từng tép, còn lại để tao lo”, Bùi Thanh V đồng ý. Khoảng 18 giờ 30 ngày 12/7/2018, Huỳnh Anh V đưa cho Bùi Thanh V một túi ni lông, bên trong có chứa ma túy tổng hợp (ma túy đá) cùng một số túi ni lông (tép) đã làm sẵn, một cái banh kẹp y tế và bảo Bùi Thanh V phân ma túy ra thành tép. Bùi Thanh V dùng ống nhựa nhỏ (loại ống uống nước) để xúc ma túy cho vào túi ni lông (tép) rồi dùng banh kẹp y tế hơ lửa kẹp lại. Do số lượng ma túy nhiều nên Bùi Thanh V nhờ Nguyễn Văn Th khèn giúp. Nguyễn Văn Th giúp Bùi Thanh V khèn được khoảng 15 đến 20 tép thì Nguyễn Văn Th nghe điện thoại và không làm nữa. Bùi Thanh V tiếp tục làm đến khoảng 19 giờ 30 cùng ngày thì phân chia xong số ma túy tổng hợp trên và đếm được 50 tép. Số tép ma túy này, Bùi Thanh V bỏ vào đầu dưới của đoạn ống tuýp inox dài khoảng 1.3m, đường kính 27mm (dùng làm cây sào phơi đồ) rồi đem để trước của phòng trọ của Huỳnh Anh V để khi cần thì cả hai có thể lấy ma túy sử dụng. Việc Bùi Thanh V cất giấu ống tuýp inox chứa ma túy có nói cho Huỳnh Anh V biết. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Bùi Thanh V lấy 01 tép ma túy ra để V, V, Th sử dụng. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, khi Bùi Thanh V đang nghe điện thoại phía ngoài hiên thì Huỳnh Anh V gọi Bùi Thanh V vào để cùng tiếp tục sử dụng ma túy với V và Th. Đến khoảng 01 giờ ngày 13/7/2018, khi Bùi Thanh V đang ngồi bấm điện thoại thì Huỳnh Anh V gọi sử dụng ma túy. Cả hai lần này thì Huỳnh Anh V đã chuẩn bị ma túy sẵn trước khi gọi Bùi Thanh V sử dụng ma túy nên Bùi Thanh V không biết ai là người lấy ma túy từ ống tuýp inox để sử dụng.

Chiều ngày 13/7/2018, Bùi Thanh V bị Công an huyện B mời làm việc vì có

liên quan đến việc trộm xe máy. Khi đến cơ quan Công an, Bùi Thanh V mượn điện thoại của Nguyễn Văn Th nhắn tin cho Nguyễn Ngọc T, sinh năm 2001 ở xã B, huyện B với nội dung “em ghé phòng trọ lấy gói đồ (ma túy đá) trong cây phơi đồ cất giùm anh với”, nhưng không thấy Tú trả lời nên V nhắn tiếp “em lấy cất chứ đừng đưa cho ai hết nghen” nhưng cũng không thấy T trả lời. Khoảng 16 giờ 30 ngày 14/7/2018, Nguyễn Ngọc T đã điện cho Nguyễn Chí Q, sinh năm 1996, ở thôn L, xã B, huyện B và rủ Nguyễn Chí Q để đến phòng trọ của Bùi Thanh V tìm ma túy cất cho V nhưng do Q đang đi làm nên không đi được. Khoảng 8 giờ 30 ngày 15/7/2018, Nguyễn Chí Q điều khiển xe máy biển kiểm soát 76C1-373XX (của ông Nguyễn S - bố của Q) đến nhà chở Nguyễn Ngọc T lên phòng trọ của Bùi Thanh V tìm ma túy nhưng không tìm được nên quay xuống chổ ngã tư Trung Dương (ngã tư Lý Bình) đứng. Trong khoảng thời gian này Nguyễn Thị T, sinh ngày 07/9/2002 ở xã B, huyện B, tỉnh Q ghé vào nói chuyện với Bùi Thanh V tại Công an huyện B thì V có nhờ T về phòng trọ lấy ma túy để cất nên trên đường về thì T gặp Q và T tại ngã tư đường Trung Dương. Do quen biết nhau nên T nhờ Q chở về phòng trọ cất đồ. Trên đường đi, T có nói cho Q biết việc V nhờ tìm số ma túy đang cất giấu trong ống tuýp inox dùng làm cây sào phơi đồ cất giấu chỗ khác để tránh sự phát hiện của cơ quan Công an và nhờ Q chở lên cùng tìm giúp thì Q đồng ý. Khoảng 9 giờ 30 cùng ngày, Q và T đến phòng trọ của V để tìm số ma túy mà V cất giấu trong ống tuýp inox dùng làm cây sáo phơi đồ nhưng không tìm thấy. Do vậy, Q đến hỏi chị Trần Thị L sinh năm 1970 ở thôn P, xã B, huyện B (nhà gần phòng trọ) có thấy đoạn ống tuýp inox để trước nhà trọ của V không thì chị Trần Thị L nói cho Q biết chiều ngày hôm qua (tức khoảng 16 giờ ngày 14/7/2018) con chị L là Trần Minh Q (sinh năm 2007) lấy đoạn ống tuýp inox cầm chơi thì phát hiện có một số túi ni lông nhỏ màu trắng, bên trong có chứa các hạt trắng như đường phèn, không biết là gì nên đã đem bỏ ngoài đống rác ở ngoài sân phòng trọ. Nghe vậy thì Nguyễn Chí Q và Nguyễn Thị T biết đó là số ma túy tổng hợp mà Bùi Thanh V nhờ tìm kiếm để cất giấu nên Nguyễn Chí Q và Nguyễn Thị T đến chỗ đống rác tìm số ma túy. Tại đây, Nguyễn Thị T tìm được 05 túi ni lông (05 tép ma túy) và cầm vứt phía ngoài hàng rào; Nguyễn Chí Q tìm được 36 túi ni lông (36 tép ma túy) đưa cho Nguyễn Thị T để Nguyễn Thị T cất giữ nhưng do số ma túy bị ướt nên Nguyễn Thị T không nhận giữ mà bảo Nguyễn Chí Q đem về sấy khô rồi đưa cho T cất giữ. Nguyễn Chí Q đem 36 tép ma túy về chổ ở sấy khô sau đó tìm T để đưa lại số ma túy trên cho T cất giữ nhưng không gặp T nên đem về cất giấu tại chỗ ở.

Đối với Nguyễn Thị T, sau khi cùng với Nguyễn Chí Q tìm giúp số ma túy

của Bùi Thanh V, đã nhận thấy hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật. Vì vậy, vào lúc 12 giờ 15 phút ngày 15/7/2018, Nguyễn Thị T đã đến cơ quan Công an huyện B trình báo sự việc liên quan đến ma túy của mình, đồng thời khai báo Nguyễn Chí Q là người đang cất giữ giúp số ma túy cho Bùi Thanh V để cơ quan Công an làm việc thu giữ số ma túy trên. Trên cơ sở nội dung trình báo của Nguyễn Thị T, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B tiến hành làm việc với Nguyễn Chí Q thì Q khai nhận đang cất giấu 36 tép ma túy đá (ma túy tổng hợp) tại chỗ ở. Do vậy, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ra lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Chí Q và thu giữ được 01 (một) vỏ gói thuốc lá WHITE HORSE; 01 (một) vỏ gói thuốc lá SAI GON; 03 (ba) mảnh giấy vở học sinh đã viết chữ; 01 tờ giấy lịch; 36 (Ba mươi sáu) túi ni lông được khèn kín bốn đầu, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng; 01 máy lửa ga màu xanh.

Qua lời khai của Nguyễn Thị T, ngày 17/7/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra

Công an huyện B tiến hành truy tìm đồ vật tại nơi Bùi Thanh V và Huỳnh Anh V ở thu giữ: 05 (năm) túi ni lông màu trắng được khèn kín bốn đầu, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng ở ngoài bờ rào gần phòng ở của Bùi Thanh V.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tổ chức truy tìm vật chứng là 06

tép ma túy còn lại và 01 cái kẹp y tế dùng để khèn các tép ma túy, đoạn tuýp inox mà Bùi Thanh Vương cất giấu số ma túy nhưng không tìm thấy.

Tại kết luận giám định số 668/KLGĐ – PC 54 ngày 18/7/2018 của Phòng kỹ

thuật hình sự (PC54) Công an tỉnh Q kết luận: Chất rắn, dạng hạt tinh thể, màu trắng bên trong 36 túi ni lông gửi giám định có khối lượng là 4,18 gam; có Methamphetamine; hàm lượng Methamphetamine là 62%. Do đó, khối lượng Methamphetamine tinh chất có trong 4,18 gam mẫu gửi giám định là 2,59 gam.

Tại kết luận giám định số 669/KLGĐ – PC 54 ngày 23/7/2018 của Phòng kỹ

thuật hình sự (PC54) Công an tỉnh Q kết luận: Chất rắn, dạng hạt tinh thể, màu trắng bên trong 05 túi ni lông gửi giám định có khối lượng là 0,55 gam; có Methamphetamine; hàm lượng Methamphetamine là 62,2%. Do đó, khối lượng Methamphetamine tinh chất có trong 0,55 gam mẫu gửi giám định là 0,34 gam.

Tổng khối lượng ma túy tổng hợp mà Bùi Thanh V tàng trữ là 41 (bốn mươi

mốt) túi ni lông gồm 36 (ba mươi sáu) túi ni lông do Nguyễn Chí Q cất giữ và 05 (năm) túi ni lông do Nguyễn Thị T vứt bỏ ở hàng rào phòng trọ là 4,73 gam. Khối lượng Methamphetamine tinh chất trong 4,73 gam là 2,93 gam.

Bản cáo trạng số 06/CT – VKS, ngày 20/12/2018 của Viện kiểm sát nhân

dân huyện B, tỉnh Q đã truy tố các bị cáo Bùi Thanh V, Nguyễn Chí Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo Bùi Thanh V, Nguyễn Chí Q khai nhận toàn bộ

hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Q giữ quyền công tố tại

phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51;

Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Bùi Thanh V từ 36 đến 40 tháng tù, bị cáo Nguyễn Chí Quyết từ 18 đến 24 tháng tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt tại bản án số 26/2018/HS –ST ngày 29/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện B, buộc các bị cáo phải chấp hành chung của hai bản án

* Vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì dán kín được niêm phong bằng 03 con dấu

của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Q, mặt trước có số 668/PC54 (GĐ-2018), mặt sau có ghi chữ mẫu vật hoàn trả sau giám định, bên trong có chứa 3,50 gam mẫu có chứa Methamphetamine còn lại sau giám định; 01 phong bì dán kín được niêm phong bằng 03 con dấu của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Q, mặt trước có số 669/PC54 (GĐ-2018), mặt sau có ghi chữ mẫu vật hoàn trả sau giám định, bên trong có chứa 0,35 gam mẫu có chứa Methamphetamine còn lại sau giám định; 01 (một) vỏ gói thuốc lá WHITE HORSE; 01 (một) vỏ gói thuốc lá SAI GON; 03 (ba) mảnh giấy vở học sinh đã viết chữ; 01 tờ giấy lịch;

Các bị cáo không tranh luận gì chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ

hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm

sát, Kiểm sát viên thu thập; người tham gia tố tụng khác cung cấp là phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra

viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Xét thấy sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ theo quy định tại các Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo Bùi Thanh V, Nguyễn Chí Q khai nhận hành vi

mà các bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện B đã truy tố các bị cáo. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã đủ cơ sở xác định vào ngày 12/7/2018, tại phòng trọ của bà Bùi Ngô Thúy L, địa chỉ tại ở xóm C, thôn P, xã B, huyện B, Huỳnh Anh V đưa cho Bùi Thanh V một túi ni lông, bên trong có chứa ma túy tổng hợp (ma túy đá) cùng một số dụng cụ và bảo Bùi Thanh V phân ma túy ra thành tép. Sau đó, Bùi Thanh V dùng ống nhựa nhỏ để xúc ma túy cho vào túi ni lông (tép) rồi dùng banh kẹp y tế hơ lửa kẹp lại tổng cộng là 50 tép. Số tép ma túy này, Bùi Thanh V cất giấu vào đầu dưới của đoạn ống tuýp inox dài khoảng1.3m, đường kính 27mm (dùng làm cây sào phơi đồ) rồi đem để trước của phòng trọ của Huỳnh Anh V. Chiều ngày 13/7/2018, Bùi Thanh V bị Công an huyện B mời làm việc vì có liên quan đến việc trộm xe máy nên Bùi Thanh V nhờ Nguyễn Thị T đến phòng trọ của mình lấy số ma túy cất giùm. Nguyễn Thị T nhờ Nguyễn Chí Q đi tìm số ma túy để cất. Tại phòng trọ của Huỳnh Anh V, Nguyễn Thị T và Nguyễn Chí Q tìm được 41 tép ma túy, trong đó Nguyễn Thị T tìm được 05 tép ma túy với khối lượng là 0,34 gam, Methamphetamine thì T đem vứt bỏ ra ngoài ruộng, còn 36 tép ma túy với khối lượng là 2,59gam, loại Methamphetamine, Nguyễn Chí Q đem về nhà cất giữ bị Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ được. Vì vậy bản cáo trạng số 06/CT – VKS, ngày 20/12/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Q truy tố các bị cáo Bùi Thanh V, Nguyễn Chí Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi mà các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm

phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm suy thái đạo đức và lối sống, ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tính mạng và sự phát triển lành mạnh của con người, là nguyên nhân làm phát sinh những tội phạm khác.Vì vậy cần xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm khắc, cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Tuy nhiên cũng xem xét các bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại

phiên tòa hôm nay đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo nhằm tạo điều kiện cho các bị cáo được giáo dục cải tạo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.

Về nhân thân, ngày 29/8/2018, Tòa án nhân dân huyện B xử phạt bị cáo

Nguyễn Chí Q 12 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” và xử phạt bị cáo Bùi Thanh V 54 tháng tù về các tội “Gây rối trật tự công cộng”, “ Cố ý gây thương tích” tại bản án số 26/2018/HS –ST ngày 29/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Q. Vì vậy khi quyết định hình phạt phải tổng hợp hình phạt với bản án số 26/2018/HS –ST ngày 29/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện B để buộc các bị cáo phải chấp hành chung là phù hợp với quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập

ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì dán kín được niêm phong bằng

03 con dấu của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Q, mặt trước có số 668/PC54 (GĐ-2018), mặt sau có ghi chữ mẫu vật hoàn trả sau giám định, bên trong có chứa 3,50 gam mẫu có chứa Methamphetamine còn lại sau giám định; 01 phong bì dán kín được niêm phong bằng 03 con dấu của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Q, mặt trước có số 669/PC54 (GĐ-2018), mặt sau có ghi chữ mẫu vật hoàn trả sau giám định, bên trong có chứa 0,35 gam mẫu có chứa Methamphetamine còn lại sau giám định; 01 (một) vỏ gói thuốc lá WHITE HORSE; 01 (một) vỏ gói thuốc lá SAI GON; 03 (ba) mảnh giấy vở học sinh đã viết chữ; 01 tờ giấy lịch, cần tịch thu tiêu hủy.

Việc cơ quan điều tra công an huyện B trả lại 01 (một) máy lửa ga màu xanh

cho Nguyễn Chí Q theo quyết định xử lý vật chứng số 13 ngày 24/7/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B vì khong liên quan đến vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 06 tép ma túy còn lại và 01 cái kẹp y tế dùng để khèn các tép ma túy,

đoạn tuýp inox mà Bùi Thanh V cất giấu số ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tổ chức truy tìm nhưng không tìm thấy.

Đối với Huỳnh Anh V, Nguyễn Văn Th có hành vi liên quan đến mua

bán, tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng hiên nay Huỳnh Anh V, Nguyễn Văn Th đã bỏ trốn khỏi địa phương nên chưa làm việc được. Do đó cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý sau là phù hợp.

Đối tượng bán ma túy cho Huỳnh Anh V tại nhà nghỉ 123 phường N,

thành phố Q do không xác định được địa chỉ, họ tên cụ thể nên cơ quan điều tra chưa làm việc được nên tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp.

Đối với vợ chồng ông Nguyễn S và bà Nguyễn Thị H (là cha mẹ ruột

của Q) nhưng không biết việc Q tàng trữ trái phép chất ma túy tại nhà nên Cơ quan điều tra không đặt ra vấn đề xử lý là phù hợp.

Đối với chủ nhà trọ bà Bùi Ngô Thúy L không biết việc V tàng trữ trái

phép chất ma túy và sử dụng ma túy tại phòng trọ nên cơ quan điều tra không đặt ra vấn đề xử lý là có căn cứ.

Đối với Nguyễn Thị T tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội Nguyễn

Thị T mới chỉ mới 15 tuổi 10 tháng 08 ngày nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về hành vi này, vì vậy đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B xử phạt hành chính theo thẩm quyền.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định trên, được

chấp nhận. Riêng đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Bùi Thanh V là cao nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định

của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố các bị cáo Bùi Thanh V, Nguyễn Chí Q phạm tội “Tàng trữ trái

phép chất ma túy”.

2.Về điều luật áp dùng và hình phạt:

2.1.Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51;

Điều 56 Bộ luật hình sự, xử phạt Bùi Thanh V 30 (ba mươi) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 54 (năm mươi bốn) tháng tù của bản án số 26/2018/HS –ST ngày 29/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Q. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 84 (tám mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 17/7/2018, nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam của bản án trước từ ngày 27/7/2017đến ngày 03/10/2017.

2.2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51;

Điều 56 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Chí Q 24 tháng tù. Tổng hợp hình phạt 12 (mười hai) tháng tù của bản án số 26/2018/HS –ST ngày 29/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Q. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 15/7/2018, nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam của bản án trước từ ngày 27/7/2017 đến ngày 05/8/2017.

3.Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;

điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì dán kín được niêm phong bằng 03 con dấu của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Q, mặt trước có số 668/PC54 (GĐ-2018), mặt sau có ghi chữ mẫu vật hoàn trả sau giám định bên trong có chứa 3,50 gam mẫu có chứa Methamphetamine còn lại sau giám định và có các chữ ký của Đỗ Thanh T, Nguyễn Văn D, Võ Thiện H; 01 phong bì dán kín được niêm phong bằng 03 con dấu của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Q, mặt trước có số 669/PC54 (GĐ-2018), mặt sau có ghi chữ mẫu vật hoàn trả sau giám định, bên trong có chứa 0,35 gam mẫu có chứa Methamphetamine còn lại sau giám định và có các chữ ký của Võ Hồng D, Nguyễn Văn D, Võ Thiện H; 01 (một) vỏ gói thuốc lá WHITE HORSE; 01 (một) vỏ gói thuốc lá SAI GON; 03 (ba) mảnh giấy vở học sinh đã viết chữ; 01 tờ giấy lịch.

(Theo đúng biên bản giao nhận vật chứng ngày 20 tháng 3 năm 2019 giữa

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện B).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm

2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Bùi Thanh V, Nguyễn Chí Q, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp cho chị

Nguyễn Thị T vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Q;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Q;

- Sở Tư pháp tỉnh Q;

- Đội CSĐT; Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ;

- Công an; VKS; CCTHA huyện B;

- UBND x. Bình Minh và x. B;

- Bị cáo;

- Những người tham gia tố tụng;

- Lưu hồ sơ; án văn.

Võ Đình Chung THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Quốc Thìn

Phạm Thị Lan

Trịnh Văn Thuận Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Quảng Ngãi;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND tỉnh Quảng Ngãi;

- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi;

- Đội CSĐT; Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ;

- Công an; VKS; CCTHA huyện B.Sơn;

- UBND xã Bình Thuận;

- Bị cáo;

- Những người tham gia tố tụng;

- Lưu hồ sơ; án văn.

Trịnh Văn Thuận THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Sơn

Bùi Tấn Ba

Trịnh Văn Thuận

Cỡ chữ