vanban.org

Bản án 14/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai Tuyên án 19/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,47 gam Heroine còn lại sau giám định được cho vào bì thư in sẵn của phòng KTHS - Công an tỉnh Lào Cai có ghi “ Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu trong vụ … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Huy T "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẢO YÊN
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2019/HS-ST
Ngày 19/6/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO YÊN - TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hà Thị Anh;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lý Văn Bảo;

Bà Đinh Thị Út;

Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Dần - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên tham gia phiên toà: ông Nguyễn Văn Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2019 tại Trụ sở Nhà văn hóa cộng đồng bản Lụ, xã Xuân Hòa, huyện Bảo Yên, Tòa án nhân dân huyện Bảo Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 13/2019/TLST- HS ngày 17 tháng 5 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Huy T; Tên gọi khác: Không; sinh ngày 06/8/1985 tại L

Nơi cư trú: Thôn 5, xã A, huyện L, tỉnh Y; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Huy L (đã chết) và bà Đinh Thị C (đã chết).

Bị cáo có vợ là Phùng Thị H – sinh năm 1990. Bị cáo có 01 con, sinh năm 2011. Hiện vợ và con bị cáo cư trú tại: Thôn 5, xã A, huyện L, tỉnh Y. Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 25/3/2019, tạm giam từ ngày 28/3/2019 . Hiện bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Bảo Yên. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15giờ 00 phút ngày 25/3/2019, bị cáo Nguyễn Huy T điều khiển xe máy Dream BKS 21T1-8038 (xe máy bị cáo mượn của ông Phùng Văn Đèo, trú tại: Thôn 5, xã An Lạc, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái) đi lên thị trấn Phố Ràng mục đích tìm mua ma túy về sử dụng. Trên đường đi bị cáo dùng điện thoại gọi điện cho người đàn ông trước đây bị cáo đã từng mua ma túy ở thị trấn Phố Ràng, huyện Bảo Yên hỏi “Anh có nhà không? Em lên mua ma túy nhé” thì người đàn ông trả lời “có nhà”. Khi bị cáo điều khiển xe đến gần thị trấn Phố Ràng, bị cáo dừng xe và gọi điện thoại cho người đàn ông đó và nói “Anh ơi em đến bệnh viện đa khoa Bảo Yên rồi”, người này trả lời “ đi vào chỗ quán bán thịt lợn, có đường rẽ vào nhà văn hóa tổ 7B” rồi tắt điện thoại. Bị cáo liền điều khiển xe đi đến nhà văn hóa tổ 7B, thị trấn Phố Ràng, huyện Bảo Yên thì thấy một người đàn ông đang đứng đợi. Bị cáo lấy 800.000 đồng đưa cho người đàn ông và nhận được 02 gói nhỏ ma túy. Bị cáo cầm 02 gói ma túy cất vào túi áo khoác bên trái và điều khiển xe máy đi về nhà, khi vừa đi một đoạn thì bị lực lượng công an kiểm tra và bắt giữ cùng tang vật.

Tại kết luận giám định số 90/GĐMT ngày 27/3/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, kết luận: 02 gói chất bột khô vón cục màu trắng thu giữ của Nguyễn Huy T ngày 25/3/2019 có khối lượng là 0,54 gam là Heroine.

Cáo trạng số 13/CT-VKS ngày 15/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên truy tố bị cáo Nguyễn Huy T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự..

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Huy T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy T từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 – BLTTHS tịch thu tiêu hủy 0,47 gam Heroine sau khi trích 0,07 gam tiến hành giám định và không hoàn lại cơ quan trưng cầu; Tịch thu của bị cáo 01 điện thoại di động Nokia màu đỏ nộp ngân sách nhà nước.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Huy T: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận do bản thân nghiện ma túy nên ngày 25/3/2019 bị cáo đã có hành vi mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực Nhà văn hóa tổ 7B thị trấn Phố Ràng, huyện Bảo Yên được 02 gói nhỏ ma túy bên trong có chứa các chất bột khô, vón cục màu trắng. Theo kết luận giám định số 90/GĐMT ngày 27/3/2019 của Phòng kỹ thuật Hình sự công an tỉnh Lào Cai, số ma túy thu giữ của bị cáo có tổng khối lượng là 0,54 gam là Heroine. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tang vật thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu hồ sơ có trong vụ án. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Yên truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước ta, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo, giáo dục bị cáo, qua đó răn đe, phòng ngừa những hành vi tương tự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình, nên cần áp dụng điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, không có việc làm ổn định nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ 0,54 gam Heroine sau khi trích mẫu 0,07 gam giám định, còn lại 0,47gam Heroine đã được niêm phong theo quy định của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Lào Cai. Xét thấy đây thuộc danh mục các chất Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu để tiêu huỷ.

Đối với 01 chiếc điện thoại Nokia bị cáo sử dụng để làm phương tiện liên lạc mua ma túy về sử dụng nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước là phù hợp.

Đối với 01 xe mô tô Honda Dream màu sơn đen trắng BKS 24T1-8038 do bị cáo điều khiển để đi mua ma túy. Quá trình điều tra xác định chiếc xe máy trên thuộc sở hữu của ông Phùng Văn Đèo, trú tại: Thôn 5, xã An Lạc, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Ông Đèo không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại chiếc xe cho ông Đèo là phù hợp. Đến nay ông Đèo không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Đối với người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ đã bán ma túy cho bị cáo, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu nào khác để chứng minh, nên không đề cập xử lý là phù hợp.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự . Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huy T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo tạm giữ ngày 25/3/2019.

2.Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 0,47 gam Heroine còn lại sau giám định được cho vào bì thư in sẵn của phòng KTHS - Công an tỉnh Lào Cai có ghi “ Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu trong vụ Nguyễn Huy T có hành vi phạm tội về ma túy. Phát hiện (thu giữ) ngày 27 tháng 3 năm 2019 tại tổ 7B, thị trấn Phố Ràng, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai” .

Tịch thu 01 điện thoại di động Nokia màu đỏ của bị cáo Nguyễn Huy T để nộp Ngân sách Nhà nước.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Huy T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ