vanban.org

Bản án 14/2019/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 14/03/2019 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 14/03/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến C, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 102/2018/HS-ST ngày 29/11/2018 của Toà án nhân dân huyện X, tỉnh Vĩnh Phúc.

Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Tiến C 07 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 29/8/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tiến C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến C, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 102/2018/HS-ST ngày 29/11/2018 của Toà án nhân dân huyện X, tỉnh Vĩnh Phúc.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2019/HS-PT
Ngày 14 tháng 3 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Quang Hùng.

Các Thẩm phán:

Ông Lê Duy Giá.

Bà Nguyễn Thị Thu Hà.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Đào Thị Tuyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Văn - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 06/2019/TLHS-PT ngày 05 tháng 01 năm 2019 do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 102/2018/HS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Vĩnh Phúc.

Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Tiến C, sinh ngày 09/8/1993 tại: Thôn L, xã M, huyện X, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Thôn L, xã M, huyện X, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Kh và bà Vũ Thị Th; vợ, con: Chưa có; tiền sự, tiền án: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 29/8/2018 đến nay (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Tiến C là đối tượng nghiện ma túy, chiều ngày 28/8/2018 C đi xe ô tô đến xã B, thị xã S, tỉnh Bắc Ninh mua 01 gói ma túy đá với giá 1.000.000 đồng của một người phụ nữ không biết tên và địa chỉ. Sau khi mua được ma túy, C chia thành 03 gói nhỏ và đã sử dụng hết 01 gói, còn 02 gói cất trong người với mục đích có ai mua thì bán. Khoảng 10 giờ ngày 29/8/2018, C nhận được điện thoại của Nguyễn Văn H, là đối tượng nghiện ma túy hỏi mua 01 gói ma túy đá với giá 500.000 đồng. C đồng ý và đi xe mô tô BKS 20M6-7707 đến điểm hẹn đưa ma túy cho H và nhận 500.000 đồng. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày H lại có nhu cầu sử dụng ma túy nên đã gọi điện cho C hỏi mua 01 gói ma túy đá với giá 500.000 đồng, C đồng ý và đi xe mô tô BKS 20M6-7707 đến điểm hẹn đưa ma túy cho H. Khi hai bên đang giao dịp mua bán thì bị Công an huyện X phát hiện, bắt giữ, tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang và thu giữ: 01 gói ma túy, được niêm phong ký hiệu A, tạm giữ của C 5.000.000 đồng, 01 ví giả da (Trong đó 1.000.000 đồng là tiền bán ma túy cho H, còn 4.000.000 đồng là tiền của mẹ C), 01 xe mô tô BKS 20M6-7707, 01 điện thoại di động, thu của H 01 điện thoại di động, 01 túi nilon màu trắng, 01 coóng thủy tinh.

Ngày 29/8/2018 Công an huyện X ra lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Tiến C. Kết quả khám xét đã thu giữ 01 bộ sử dụng ma túy gồm: 01 ống nhựa, 01 coóng thủy tinh, 01 bình thủy tinh.

Ngày 29/8/2018 Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định đối với 01 túi nilon đã thu giữ có ký hiệu A. Tại kết luận số 1221/KLGĐ ngày 01/9/2018, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã kết luận:

Tinh thể dạng đá của mẫu ký hiệu A gửi đến giám định là ma túy có lẫn tạp chất, loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi đến giám định là 0,3026g. Khối lượng Methamphetamine có trong 0,3026g mẫu là 0,251g. Hoàn lại mẫu vật sau trưng cầu gồm A= 0,1493g mẫu và toàn bộ bao gói.

Với hành vi như trên, tại Bản án số 102/2018/HS-ST ngày 29/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện X đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tiến C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Tiến C 07 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 29/8/2018.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn xử lý vật chứng, tuyên án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05/12/2018 bị cáo Nguyễn Tiến C có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo đó là tự thú để giảm một phần hình phạt cho bị cáo, theo đó đề nghị Hội đồng xét xử phạt bị cáo 07 năm 03 tháng tù.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến C làm trong hạn luật đinh, hợp lệ được xem xét giải quyết.

Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Nguyễn Tiến C đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, lời khai tại phiên tòa sơ thẩm, có đủ căn cứ để xác định như sau: Do Nguyễn Tiến C là đối tượng nghiện hút, ngày 28/8/2018 C đi xe ô tô đến xã B, thị xã S, tỉnh Bắc Ninh mua 01 gói ma túy đá với giá 1.000.000 đồng của một người phụ nữ không biết tên và địa chỉ. Sau khi mua được ma túy C chia thành 03 gói nhỏ và đã sử dụng hết 01 gói, còn 02 gói cất trong người với mục đích có ai mua thì bán. Khoảng 10 giờ ngày 29/8/2018, C nhận được điện thoại của Nguyễn Văn H, là đối tượng nghiện ma túy hỏi mua 01 gói ma túy đá với giá 500.000 đồng. C đồng ý và đi xe mô tô BKS 20M6-7707 đến điểm hẹn đưa ma túy cho H và nhận 500.000 đồng. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày H lại có nhu cầu sử dụng ma túy nên đã gọi điện cho C hỏi mua 01 gói ma túy đá với giá 500.000 đồng, C đồng ý và đi xe mô tô BKS 20M6-7707 đến điểm hẹn đưa ma túy cho H. Khi hai bên đang giao dịp mua bán thì bị Công an huyện X phát hiện, bắt giữ, tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang.

Ngày 29/8/2018 Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định đối với 01 túi nilon đã thu giữ có ký hiệu A. Tại kết luận số 1221/KLGĐ ngày 01/9/2018, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã kết luận: Tinh thể dạng đá của mẫu ký hiệu A gửi đến giám định là ma túy có lẫn tạp chất, loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi đến giám định là 0,3026g. Khối lượng Methamphetamine có trong 0,3026g mẫu là 0,251g. Hoàn lại mẫu vật sau trưng cầu gồm A= 0,1493g mẫu và toàn bộ bao gói.

Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên toà phúc thẩm và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thấy rằng cấp sơ thẩm đã điều tra, truy tố và xét xử bị cáo Nguyễn Tiến C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai.

Xét quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc về việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho bị cáo thấy: Bị cáo bị bắt quả tang đang bán ma túy cho H, khi lập biên bản phạm pháp quả tang cũng như quá trình điều tra bị cáo khai nhận ngày 29/8/2018 bị cáo bán cho H 02 lần ma túy; tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo không thừa nhận hành vi bán ma túy 02 lần, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã thừa nhận hoàn toàn hành vi phạm tội của mình. Như vậy không thể cho rằng hành vi phạm tội của bị cáo chưa bị phát hiện; do đó không có căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ này cho bị cáo.

Xét đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Tiến C, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ma tuý là tệ nạn cần phải loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội vì nó làm sói mòn đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc, ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do vậy, việc đưa bị cáo ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật là cần thiết để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo và quyết định mức hình phạt 07 năm 09 tháng là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng ngoài những tình tiết giảm nhẹ Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng, bị cáo Nguyễn Tiến C không xuất trình được tài liệu nào mới, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến C không được Hội đồng xét xử chấp nhận nên bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến C, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 102/2018/HS-ST ngày 29/11/2018 của Toà án nhân dân huyện X, tỉnh Vĩnh Phúc.

Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Tiến C 07 năm 09 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 29/8/2018.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo Nguyễn Tiến C phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ