vanban.org

Bản án 14/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị T đối với ông Phạm Ngọc T về việc tranh chấp ly hôn.

Tuyên xử: - Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Tđược ly hôn với ông Phạm Ngọc T(Do chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị T đối với ông Phạm Ngọc T nên giấy chứng nhận kết hôn hôn số 41/2014, quyển số 01/2014 cấp ngày 03/4/2014 do UBND phường Mân Thái, quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng cấp ngày 03/4/… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị T đối với ông Phạm Ngọc T về việc tranh chấp ly hôn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam
Tßa ¸n nh©n d©n quËn s¬n trµ céng hßa x· héi chñ nghÜa viÖt nam
Thµnh phè ®µ n½ng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 27 - 6 -2019
“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa : Bà Hồ Thị Mỹ Dung

Các hội thẩm nhân dân :

Bà Vũ Thị Lệ Thủy

Ông Mai Hồ Hải Thành

-Thư ký phiên tòa : Bà Nguyễn Thị Lành – Là Thư ký tòa án nhân dân quận Sơn Trà – TP Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hương Thu – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 12/2019/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2019/QĐST-HPT ngày 17/6/2019 giữa:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thủy. Sinh năm : 1973. Nghề nghiệp: Công nhân. Trú tại : Số 57 Đ, phường T, quận T, TP Đà Nẵng. Có mặt.

- Bị đơn: : Ông Phạm Ngọc T. Sinh năm: 1973. Nghề nghiệp: Thợ gỗ.

Trú tại : Tổ 36, phường M, quận S, TP. Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Theo đơn khởi kiện đề ngày 05/11/2018 được trung tâm hòa giải tại Tòa án chuyển đến ngày 22/01/2019, bản tự khai và tại phiên toà sơ thẩm hôm nay, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T rình bày:

- Về quan hệ hôn nhân : Tôi và ông Phạm Ngọc T kết hôn vào năm 2014, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Mân Thái, quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện có thời gian tìm hiểu nhau, sau khi kết hôn vợ chồng tôi sống với gia đình chồng tại tổ 36, phường Mân Thái, quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng. Tôi và ông T sống được đến năm 2016 thì tình cảm vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vả nhau, ông T sống không chung thủy. Mâu thuẫn được hai bên hòa giải nhưng vẫn không có kết quả. Năm 2016 ông T đuổi tôi đi nên tôi và ông T sống ly thân từ năm 2016 đến nay, không ai quan tâm chăm sóc nhau trong cuộc sống. Nay tôi xác định không còn tình cảm với ông Phạm Ngọc T nên tôi yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Phạm Ngọc T.

- Về con chung : Tôi xác định không có con chung.

- Về tài sản chung: Tôi xác định không có.

- Về nợ chung: Tôi xác định không có.

Bị đơn, ông Phạm Ngọc T từ khi Toà án thụ lý vụ án cho đến khi xét xử không có mặt theo giấy triệu tập của Toà án, không có ý kiến đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không tham gia phiên hoà giải và cũng không tham gia phiên toà nên không có ý kiến lưu hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà phát biểu về sự tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và của các đương sự. Theo ®ã: ThÈm ph¸n, Thư ký, Héi ®ång xÐt xö tu©n thñ ®óng ph¸p luËt tõ kh©u thô lý, hßa gi¶i, thu thËp chøng cø vµ më phiªn tßa xÐt xö ®óng quy định. Nguyªn ®¬n chÊp hµnh nghiªm chØnh ph¸p luËt tè tông. Riªng bÞ ®¬n kh«ng thùc hiÖn c¸c quyÒn vµ nghÜa vô tè tông của mình nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc không tuân thủ quy định của pháp luật. Về nội dung xét thấy quan hệ hôn nhân của bà T và ông T đã thật sự trầm trọng nên cần áp dụng điều 51, 56 LuËt h«n nh©n vµ gia ®×nh ViÖt Nam cho bà T được ly hôn ông Phạm Ngọc T; về con chung, tài sản chung, nợ chung: Tại phiên tòa hôm nay bà T xác định không có, ông T không có ý kiến về các vấn đề này nên không đề cập giải quyết. Sau này các đương sự có tranh chấp, khởi kiện tại Tòa án thì sẽ thụ lý giải quyết bằng vụ án khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, HĐXX nhận định:

VÒ thñ tôc tè tông: ¤ng Phạm Ngọc T lµ bÞ ®¬n trong vô ¸n, ®· ® îc Tßa ¸n triÖu tËp hîp lÖ nhiÒu lÇn ®Ó tham gia tè tụng nh ng kh«ng cã mÆt. Tại phiên tòa hôm nay ông Phạm Ngọc T vắng mặt lần thứ 2 không có lý do, v× vËy, Héi ®ång xÐt xö c¨n cø điều 228 Bé luËt tè tông d©n sù năm 2015 ®Ó xÐt xö v¾ng mÆt bÞ ®¬n.

Về nội dung: Bà Nguyễn Thị Tvà ông Phạm Ngọc T kết hôn năm 2014 do hai bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Mân Thái, quận Sơn Trà, Đà Nẵng theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 41/2014, quyển số 01/2014 cấp ngày 03/4/2014. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn, bà T và ông T sống chung với gia đình ông T tại tổ 36, phường Mân Thái, quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân theo bà T trình bày là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vả nhau, ông T sống không chung thủy. Mâu thuẫn được hai bên hòa giải nhưng vẫn không có kết quả. Năm 2016 ông T đuổi bà T đi nên bà T và ông T sống ly thân từ năm 2016 đến nay, không ai quan tâm chăm sóc nhau trong cuộc sống. Quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bà T xác định không còn yêu thương ông T nên xin được ly hôn, còn ông T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến về quan hệ hôn nhân này. Xét yêu cầu xin ly hôn của bà T thì thấy: Giữa bà T và ông T từ khi kết hôn năm 2014 đến nay hai bên chỉ chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Khi mâu thuẫn xảy ra cả hai bên đều không có giải pháp gì để hàn gắn và xây dựng lại gia đình, vợ chồng đã sống ly thân nhau từ năm 2016 đến nay. Đối với ông T có ý thức để mặc, không tham gia các phiên hòa giải, chứng tỏ không còn tha thiết với chính gia đình của mình. Mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, hai bên không còn mục đích xây dựng hạnh phúc chung. Đại diện tổ dân phố nơi bà T, ông T sinh sống xác định giữa bà T và ông T có mâu thuẫn cãi nhau , cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà T về nhà mẹ ruột ở Thanh Khê sống từ năm 2016 đến nay. Do vậy, HĐXX xét thấy không cần thiết phải duy trì cuộc hôn nhân mà thực tế đã không còn tồn tại nữa mà giải quyết cho bà T được ly hôn với ông T là phù hợp quy định tại điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị T xác định không có con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị T xác định không có. Ông Phạm Ngọc T không có ý kiến gì về các vấn đề này nên HĐXX không đề cập giải quyết. Sau này các đương sự có tranh chấp, khởi kiện tại Tòa án thì sẽ giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ nguyên đơn bà Nguyễn Thị T phải chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào điều 228 Bé luËt tè tông d©n sù năm 2015;

- Căn cứ vào Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam;

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị T đối với ông Phạm Ngọc T về việc tranh chấp ly hôn.

Tuyên xử: - Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị Tđược ly hôn với ông Phạm Ngọc T(Do chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị T đối với ông Phạm Ngọc T nên giấy chứng nhận kết hôn hôn số 41/2014, quyển số 01/2014 cấp ngày 03/4/2014 do UBND phường Mân Thái, quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng cấp ngày 03/4/2014 không còn giá trị pháp lý)

- Về quan hệ con chung: Không có.

- Về tài sản chung, nợ chung : Không đề cập đến

2. Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000 đồng bà Nguyễn Thị T phải chịu, được khấu trừ vào khoản tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà, biên lai thu số 009238 ngày 15/02/2019.

Báo cho bà Nguyễn Thị T biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 27/6/2019. Riêng ông Phạm Ngọc T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ