- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị H yêu cầu xin ly hôn và giải quyết phần con chung với anh T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PĂH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH GIA LAI Bản án số: 14/2019/HNGĐ - ST Ngày: 30-10-2019 “V/v: Tranh chấp ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PĂH, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hòa.
Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Trịnh Văn Tuyên
2. Bà Hoàng Thị Hải
- Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Nữ Hương Giang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Păh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Diệp - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2019, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 39/2019/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2019 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 9 năm 2019, Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2019/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thu H, sinh năm 1990
Địa chỉ: Thôn 4, xã HP, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai. (Có mặt)
2. Bị đơn: Anh Dương Tấn T, sinh năm 1990
Địa chỉ: Thôn 4, xã HP, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 11/4/2019 cùng các tài liệu có tại hồ sơ và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Trần Thị Thu H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Dương Tấn T tự nguyện tìm hiểu trong khoảng 02 năm thì đi đến kết hôn. Có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh BĐ vào ngày 17/4/2013. Thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc, đến năm 2014 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị làm việc ở khách sạn, từ đó anh T nảy sinh tính ghen tuông, có những lời nói xúc phạm chị, có lúc còn tìm tới tận chỗ làm của chị để gây chuyện và đánh chị, ngoài ra vì nhu cầu sinh lý của anh T, chị không đáp ứng được và cũng không muốn đáp ứng, từ đó khiến chị rất mệt mỏi với cuộc sống hôn nhân nên từ đầu năm 2018 chị đã sống ly thân với anh T cho đến nay, vợ chồng không còn quan tâm gì đến nhau. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị và anh T có 01 con chung là Dương Mộc Nh, sinh ngày 12/4/2014. Ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị không yêu cầu anh Tập phải cấp dưỡng tiền nuôi con.
Về tài sản chung và các nghĩa vụ chung khác: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra, chị không yêu cầu gì khác.
Đối với bị đơn là anh Dương Tấn T: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên hoà giải, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh T không đến Toà án để làm việc, không cung cấp cho Toà án văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn là đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, do đó Hội đồng xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 51; 56; 81;82;83; 84 Luật Hôn nhân gia đình. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai theo quy định khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Dương Tấn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tống tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, vì vậy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy rằng:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Thu H và anh Dương Tấn T tự nguyện tìm hiểu và đăng kết hôn với nhau vào ngày 17/4/2013, tại Uỷ ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh BĐ. Việc kết hôn của anh chị đúng theo quy định pháp luật, nên đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống giữa chị H và anh Tập đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, chị H cho rằng khi chị mang thai anh T ghen tuông và nói những lời lẽ xúc phạm tới chị, còn tới tận công ty gây chuyện và đánh chị, một phần cũng do chị không đáp ứng được nhu cầu sinh lý của anh T nên từ đầu năm 2018 chị đã sống ly thân với anh T, trong thời gian sống ly thân vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc gì với nhau. Vì vậy chị làm đơn đề nghịTòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T. Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng và quyết định đưa vụ án ra xét xử hợp lệ, nhưng anh T không lên Tòa án làm việc và không có ý kiến gửi cho Tòa án, cố tình trốn tránh pháp luật, thể hiện anh T không có thiện chí hàn gắn tình cảm để cùng chị H đoàn tụ gia đình, nuôi dạy con cái.
Xét tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh T đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, nên áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu của chị H xin ly hôn với anh T.
Về con chung: Giữa chị H và anh T có 01 con chung là Dương Mộc Nh, sinh ngày 12/4/2014.
Ly hôn chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con. Xét nguyện vọng này của chị H thì thấy rằng: Cháu Nh hiện còn nhỏ và từ hơn một năm nay khi chị H và anh T sống ly thân, cháu được mẹ là người trực tiếp nuôi dưỡng, nên Hội đồng xét xử xét thấy chị H có đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau khi ly hôn. Do đó, căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình để chấp nhận yêu cầu của chị H.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con cho chị H, nên không xem xét.
Về tài sản chung và các nghĩa vụ chung khác: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và theo quy định tại Điều 27 của Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì chị Trần Thị Thu H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56; 57; 58; 81; 82; 83; 84 Luật hôn nhân gia đình. Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Về hôn nhân: Chị Trần Thị Thu H được ly hôn với anh Dương Tấn T.
Về con chung: Giao cháu Dương Mộc Nh, sinh ngày 12/4/2014 cho chị H trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi con chung thành niên có khả năng lao động hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Dương Tấn T không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên, các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con.
Về án phí: Buộc chị Trần Thị Thu H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm chị H đã nộp trước đây theo biên lai thu án phí, lệ phí Tòa án số: 0002650 ngày 16 tháng 4 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai.
Chị Trần Thị Thu H đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngàyTòa án niêm yết bản án.
| Nơi nhận : -TAND tỉnh Gia Lai; -VKSND h. Chư Păh; -THADS h. Chư Păh; -UBND xã B; -Đương sự; -Lưu HSVA. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lê Thị Hòa |