vanban.org

Bản án 14/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam về “tranh chấp hợp đồng vay tài sản “,

Buộc ông Tôn Thất Đ và bà Vũ Thị E phải có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam số tiền gốc còn nợ là 1.000.000.000 đồng ( một tỷ đồng ) và tiền lãi trong hạn là 86.000.000 đồng (tám mươi sáu triệu đồng); lãi quá hạn là 39.057.534 đồng (ba mươi chín tri… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "NHNN&PTNT Việt Nam-Hoàng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam về “tranh chấp hợp đồng vay tài sản “,
  • Căn cứ chính? Nghị định số 163/2006/NĐ-CP Về giao dịch bảo đảm; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị định số 83/2010/NĐ-CP Về đăng ký giao dịch bảo đảm
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI
TỈNH BÌNH PHƯỚC
---------------------------
Bản án số: 14/2019/DS-ST
Ngày 06 – 9 - 2019
V/v “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG XOÀI

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Văn Phú Vinh

Các hội thẩm nhân dân: Ông Đào Xuân Nhi; Ông Đỗ Văn Kha

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên Tòa: Ông Đ Hữu Bình

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài : Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên

Ngày 06 tháng 9 năm 2019, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân Thành phố Đồng Xoài mở phiên Tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 46/2019/TLST-DS ngày 23 tháng 3 năm 2019 về: “ Tranh chấp hợp đồng vay tài sản “ theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2019/QĐST-DS ngày 01 tháng 8 năm 2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 15/2019/QĐ-HPT ngày 19 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam

Trụ sở: Số 2, LH, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Ngọc B – Chủ tịch HĐTV

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn C – Giám đốc Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh thị xã Đồng Xoài (nay là Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Tây Bình Phước), tỉnh Bình Phước theo văn bản ủy quyền số 510/QĐ-HĐYV-PC ngày 19 tháng 6 năm 2014 của Chủ tịch Hội đồng thành viên Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam. Ông Lê Văn C ủy quyền lại cho ông Nguyễn Văn D - Chức vụ: Phó phòng Kế hoạch và kinh doanh tham gia tố tụng theo giấy ủy quyền lập ngày 04 tháng 3 năm 2019 (Vắng mặt có lý do)

Bị đơn: Ông Tôn Thất Đ – SN: 1973 (vắng mặt không có lý do)

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Vũ Thị E – SN: 1974 (vắng mặt không có lý do)

Địa chỉ: ấp 4, xã TH, thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện của đại diện ủy quyền của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam cũng như bản tự khai của ông Nguyễn Văn D là người được ủy quyền lại trình bày:

Vào ngày 16 tháng 11 năm 2017 ông Tôn Thất Đ có đại diện ký hợp đồng tín dụng vay vốn số 5601-LAV-201706077 với Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh thị xã Đồng Xoài (nay là Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Tây Bình Phước). (sau đây được gọi tắt là Ngân hàng ) với số tiền là 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng). Thời hạn vay là 01 năm, hai bên có thỏa thuận lãi suất là 8,6%/năm (bằng lãi suất huy động tiết kiệm dân cư VNĐ kỳ hạn 12 tháng trả lãi sau hiện hành của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh thị xã Đồng Xoài (nay là Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Tây Bình Phước), cộng 02%/năm được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/ lần. Lãi quá hạn là 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn là 13,2%/năm. Trong quá trình vay, ông Đ chưa trả trả một khoản tiền gốc và lãi nào. Vì vậy, Ngân hàng đã chuyển sang nợ quá hạn kể từng ngày 17 tháng 11 năm 2018. Tổng số tiền còn nợ Ngân hàng tính từ ngày 04 tháng 3 năm 2019 (ngày làm đơn khởi kiện) như sau:

Tổng tiền gốc còn nợ là 1.000.000.000 đồng; Tổng tiền lãi trong hạn là 1.000.000.000 đồng x 8,6%/năm x 365 ngày = 86.000.000 đồng; Tổng tiền lãi quá hạn là 1.000.000.000 đồng x 13,2%/năm x 108 ngày = 39.057.534 đồng; Tổng tiền phải trả là 1.125.057.534 đồng.

Để đảm bảo cho khoản vay này, ông Đ có thế chấp một giấy chứng nhận QSDĐ số BA776900, số vào sổ 00405/QSDĐ cấp ngày 11 tháng 10 năm 2011 do UBND thi xã Đồng Xoài (nay là thành phố Đồng Xoài) với diện tích 519,5 m2 (trong đó đất sản xuất nông nghiệp 294,5 m2 và đất ở 225 m2), tại thửa đất số 488, tờ bản đồ số 39, tọa lạc tại ấp 4, xã TH, thi xã Đồng Xoài (nay là thành phố Đồng Xoài), tỉnh Bình Phước theo hợp đồng thế chấp QSDĐ số 20171092/HĐTC ngày 16 tháng 11 năm 2017, do Văn phòng Công chứng Hoàng Kim F chứng thực.

Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc ông Tôn Thất Đ phải trả lại cho Ngân hàng số nợ cụ thể như sau:

Tổng tiền gốc còn nợ là 1.000.000.000 đồng; Tổng tiền lãi trong hạn là 1.000.000.000 đồng x 8,6%/năm x 365 ngày = 86.000.000 đồng; Tổng tiền lãi quá hạn là 1.000.000.000 đồng x 13,2%/năm x 108 ngày = 39.057.534 đồng; Tổng tiền phải trả là 1.125.057.534 đồng. Và số tiền lãi phát sinh kể từ ngày 04 tháng 3 năm 2019 (ngày làm đơn khởi kiện) cho đến khi trà hết nợ gốc và lãi cho ngân hàng.

Bị đơn ông Tôn Thất Đ và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Vũ Thị E vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng nên không có lời khai.

Phần phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đồng Xoài :

Về trình tự thủ tục tố tụng từ khi thụ lý cho đến tại phiên Toà: Thẩm phán và hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục tố tụng.

Về nội dung vụ án: Xét thấy, mặc dù trong suốt quá trình tố tụng, ông Tôn Thất Đ và bà Vũ Thị E vắng mặt không có lý do, tuy nhiên căn cứ vào hợp đồng tín dụng vay vốn số 5601-LAV-201706077 với Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh thị xã Đồng Xoài (nay là Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Tây Bình Phước) với số tiền là 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) và hợp đồng thế chấp QSDĐ số 20171092/HĐTC ngày 16 tháng 11 năm 2017, được Văn phòng Công chứng Hoàng Kim F chứng thực, do ông Đ ký tên (bà E có hợp đồng ủy quyền cho ông Đ đã được Văn phòng công chứng Hoàng Kim F chứng thực lập vào ngày 10 tháng 7 năm 2017). Do đó, xác định giao dịch vay tiền nêu trên là có thật và ông Đ vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã ký kết trong hợp đồng. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và buộc bị đơn ông Đ, bà E phải liên đới trả nợ theo yêu cầu của Ngân hàng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN :

Sau khi nghiên cứu đầy đủ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Toà án : Đây là vụ án dân sự về “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, bị đơn cư trú tại ấp 4, xã TH, Thành phố Đồng Xoài. Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài.

Thời hiệu khởi kiện : Vào ngày 16 tháng 11 năm 2017 ông Tôn Thất Đ có đại diện ký hợp đồng tín dụng vay vốn số 5601-LAV-201706077 với Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh thị xã Đồng Xoài (nay là Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Tây Bình Phước). (sau đây được gọi tắt là Ngân hàng ) với số tiền là 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng). Thời hạn vay là 01 năm. Căn cứ vào Điều 429 của Bộ luật dân sự 2015 thì giao dịch này đảm bảo thời hiệu khởi kiện.

Về thủ tục giải quyết vắng mặt: Trong quá trình thụ lý cũng như giai đoạn thu thập chứng cứ và tại phiên toà hôm nay, mặc dù Toà án đã tống đạt, niêm yết văn bản tố tụng và thực hiện thủ tục thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng cho ông Đ, bà E nhiều lần nhưng không có kết quả. Việc vắng mặt của ông Đ, bà E là đương nhiên từ chối quyền lợi của mình. Riêng đại diện Ngân hàng được ủy quyền là ông D đã có bản tự khai và có đơn xin giải quyết vắng mặt. Vì vậy, cần áp dụng Điều 227; 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Xét nội dung, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam :

Mặc dù trong quá trình thu thập chứng cứ cũng như tại phiên toà, không có mặt ông Đ, bà E. Tuy nhiên, căn cứ vào hợp đồng tín dụng vay vốn số 5601-LAV-201706077 với Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh thị xã Đồng Xoài (nay là Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Tây Bình Phước) với số tiền là 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) và hợp đồng thế chấp QSDĐ số 20171092/HĐTC ngày 16 tháng 11 năm 2017, được Văn phòng Công chứng Hoàng Kim F chứng thực, do ông Đ ký tên (bà E có hợp đồng ủy quyền cho ông Đ đã trong việc thế chấp tài sản), phía ngân hàng đã giải ngân cho ông Đ theo như thỏa thuận của hợp đồng, nhưng đến nay ông Đ không thanh toán tiền nợ theo cam kết. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để khẳng định việc ông Đ còn nợ của Ngân hàng với số tiền gốc như đã nêu trên là có thật, phù hợp với nhận định và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài tại phiên tòa. Vì vậy, Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc ông Đ phải trả lại cho ngân hàng số tiền gốc đã vay là 1.000.000.000 đồng tiền gốc là hoàn toàn có cơ sở để chấp nhận.

Căn cứ vào lời trình bày của đại diện Ngân hàng thì theo thỏa thuận của hợp đồng, số tiền vay là 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng) với thời hạn vay là 01 năm và mức lãi suất là 8,6%/năm (bằng lãi suất huy động tiết kiệm dân cư VNĐ kỳ hạn 12 tháng trả lãi sau hiện hành của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh thị xã Đồng Xoài (nay là Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh Tây Bình Phước), cộng 02%/năm được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/ lần. Lãi quá hạn là 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn là 13,2%/năm. Quá trình từ khi vay cho đến nay, ông Đ chưa trả một khoản tiền gốc và lãi cho Ngân hàng. Như vậy, ông Đ đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền lãi tính từ ngày 16 tháng 11 năm 2017 đến ngày Ngân hàng yêu cầu tính tiền lãi trong hạn là ngày 17 tháng 11 năm 2018 (ngày kết thúc hợp đồng) là 01 năm và được tính như sau:

1.000.000.000 đồng x 8,6%/năm x 365 ngày = 86.000.000 đồng

Đối với lãi quá hạn, ông Đ bắt đầu vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc tính từ ngày 18 tháng 11 năm 2018 cho đến ngày 04 tháng 3 năm 2019 (ngày ký đơn khởi kiện) là 4 tháng 02 ngày và được tính như sau:

1.000.000.000 đồng x 13,2%/năm x 108 ngày = 39.057.534 đồng.

Như vậy, yêu cầu tính lãi của Ngân hàng là có cơ sở nên được chấp nhận.

Trong quá trình làm thủ tục vay tài sản, vợ của ông Đ là bà Vũ Thị E có làm hợp đồng ủy quyền cho ông Đ được dùng giấy chứng nhận QSDĐ số BA776900, số vào sổ 00405/QSDĐ cấp ngày 11 tháng 10 năm 2011 do UBND thi xã Đồng Xoài cấp (nay là thành phố Đồng Xoài) với diện tích 519,5 m2 (trong đó đất sản xuất nông nghiệp 294,5 m2 và đất ở 225 m2), tại thửa đất số 488, tờ bản đồ số 39, tọa lạc tại ấp 4, xã TH, thi xã Đồng Xoài (nay là thành phố Đồng Xoài), tỉnh Bình Phước, thế chấp cho Ngân hàng để vay tiền nhằm mục đích chăm sóc vườn cây cao su và chăn nuôi bò và được Văn phòng Công Chứng Hoàng Kim F chứng thực. Vì vậy, nghĩ cần thiết buộc ông Đ, bà E phải có trách nhiệm liên đới trả nợ gốc và lãi với số tiền nêu trên cho Ngân hàng là hoàn toàn có cơ sở và phù hợp với pháp luật.

Tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Xoài thấy phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

Án phí DSST: ông Đ, bà E liên đới phải chịu theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ nêu trên:

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng khoản 3 Điều 26; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; 147; 227; 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

- Áp dụng các Điều 429; 463; 466; 468 của Bộ luật dân sự 2015.

- Áp dụng các Điều 27; 37 của Luật Hôn nhân và gia đình.

- Áp dụng các Điều 90; 91; 95; 99 của Luật các tổ chức tín dụng.

- Áp dụng Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ quy định về giao dịch bảo đảm và Nghị định 83/2010/NĐ-CP ngày 23 tháng 7 năm 2010 của Chính phủ quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm.

- Áp dụng nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam về “tranh chấp hợp đồng vay tài sản “,

2. Tuyên xử:

Buộc ông Tôn Thất Đ và bà Vũ Thị E phải có trách nhiệm liên đới trả cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam số tiền gốc còn nợ là 1.000.000.000 đồng ( một tỷ đồng ) và tiền lãi trong hạn là 86.000.000 đồng (tám mươi sáu triệu đồng); lãi quá hạn là 39.057.534 đồng (ba mươi chín triệu không trăm năm mươi bảy ngàn năm trăm ba mươi bốn đồng); Tổng cộng các khoản gốc và lãi là 1.125.057.534 đồng (một tỷ một trăm hai mươi lăm triệu không trăm năm mươi bảy ngàn năm trăm ba mươi bốn đồng).

Sau khi ông Tôn Thất Đ và bà Vũ Thị E hoàn tất việc trả các khoản nợ thì Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam phải có trách nhiệm hoàn trả cho ông Tôn Thất Đ, bà Vũ Thị E 01giấy chứng nhận QSDĐ số BA776900, số vào sổ 00405/QSDĐ cấp ngày 11 tháng 10 năm 2011 do UBND thi xã Đồng Xoài (nay là thành phố Đồng Xoài) cấp với diện tích 519,5 m2 (trong đó đất sản xuất nông nghiệp 294,5 m2 và đất ở 225 m2), tại thửa đất số 488, tờ bản đồ số 39, tọa lạc tại ấp 4, xã TH, thi xã Đồng Xoài (nay là thành phố Đồng Xoài), tỉnh Bình Phước

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật, nhưng ông Tôn Thất Đ, bà Vũ Thị E không thực hiện, chậm thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán việc trả nợ, thì Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài phát mãi tài sản mà ông bà đã thế chấp để thu hồi nợ.

3. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Tôn Thất Đ, bà Vũ Thị E liên đới phải chịu là 45.751.726 đồng (bốn mươi lăm triệu bảy trăm năm mươi mốt ngàn bảy trăm hai mươi sáu đồng).

Hoàn trả cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam số tiền tạm ứng án phí là 22.000.000 đồng (hai mươi hai triệu đồng) đã nộp trước theo biên lai thu tiền số 0000982 ngày 19 tháng 3 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Đồng Xoài.

Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án tại địa phương. Nôi nhaän:

Cỡ chữ