vanban.org

Bản án 14/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xét xử vụ án vắng mặt bị đơn anh Phạm Văn T

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng C về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” đối với bị đơn anh Phạm Văn T. Buộc anh Phạm Văn T phải trả cho Ngân hàng C số tiền 14.884.697 đồng, trong đó nợ gốc 12.000.000 đồng và nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 17/9/2019) là 2.884.697 đồng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp Hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Xét xử vụ án vắng mặt bị đơn anh Phạm Văn T
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG TRẠCH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG BÌNH
Bản án số: 14 /2019/DS-ST
Ngày: 17- 9 - 2019
“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Đậu Thị Phú

2. Ông Phan Xuân Lợi

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch tham gia phiên toà: Ông Đinh Xuân Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch

xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 19/2019/TLST-TCDS ngày 03 tháng 5 năm 2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2019/QĐXXST - DS ngày 12 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng C. Địa chỉ: tòa nhà CC5, khu B, phường H, quận H, thành phố Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T – Chức vụ: Tổng Giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hồng P - Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng C huyện Q, tỉnh Quảng Bình (Theo Quyết định số 1792/QĐ-NHCS ngày 09/6/2015)

Người được ủy quyền lại: Bà Trần Thị Thu N – Phó Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng C huyện Q, tỉnh Quảng Bình. (theo Giấy ủy quyền số 273/NHCS-UQ) ngày 04/6/2019)

2. Bị đơn: Anh Phạm Văn T, sinh năm 1991; địa chỉ: thôn Kinh Tân, xã Cảnh Hóa, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình

Tại phiên tòa, bà Trần Thị Thu N có mặt, anh Phạm Văn T vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 28/3/2019, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng C trình bày:

Ngày 20/6/2014, anh Phạm Văn T đã vay tại Phòng giao dịch Ngân hàng Chuyện Quảng Trạch số tiền 12.000.000 đồng, lãi suất 0,8%/tháng, kỳ hạn trả nợ 06 tháng/lần, hạn trả cuối cùng ngày 10/6/2019 theo hợp đồng tín dụng số 6600000701776865 theo chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường. Đến nay anh T không thực hiện theo đúng cam kết về việc trả lãi đầy đủ, đúng hạn cho Ngân hàng.

Để thu hồi vốn cho Nhà nước, đại diện cho Ngân hàng CViệt Nam đề nghị Tòa án giải quyết buộc anh Phạm Văn T phải có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ số tiền 14.884.697 đồng, trong đó nợ gốc 12.000.000 đồng và nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 17/9/2019) là 2.884.697 đồng và phải tiếp tục trả khoản tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong tiền nợ.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt văn bản tố tụng, thông báo thụ lý vụ án, gửi giấy triệu tập, thông báo phiên họp và hòa giải nhiều lần cho anh T nhưng anh T không đến Tòa án để giải quyết vụ án. Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ tại Ủy ban nhân dân xã C và kết quả cho thấy: sau khi nhận được các văn bản tố tụng từ Tòa án thì chính quyền địa phương đã cử cán bộ liên lạc giao đầy đủ cho phía gia đình anh T.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến tại phiên tòa, người tiến hành tố tụng đã tuân theo pháp luật tố tụng. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập nhưng vẫn cố tình vắng mặt. Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh T là đúng quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch không có kiến nghị đối với vụ án này.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, đề nghị HĐXX áp dụng Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015; các Điều 91 và 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; xét xử vụ án vắng mặt bị đơn anh Phạm Văn T. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn anh Phạm Văn T phải trả nợ cho Ngân hàng C số tiền gốc và lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (17/9/2019) tổng cộng số tiền là 14.884.697 đồng, trong đó: tiền nợ gốc là 12.000.000 đồng, tiền nợ lãi là 2.884.697 đồng; buộc bị đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Bị đơn anh Phạm Văn T có nơi cư trú tại thôn Kinh Tân, xã Cảnh Hóa, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình. Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.

Tòa án đã tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật, tiến hành mở phiên tòa xét xử vụ án vào ngày 28/8/2019, do anh Phạm Văn T vắng mặt lần thứ nhất không có lý do nên HĐXX đã Quyết định hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa lần 2 anh T tiếp tục vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vụ án vắng mặt anh Phạm Văn T.

Về nội dung tranh chấp, yêu cầu của đương sự: Theo yêu cầu khởi kiện, lời trình bày của các đương sự và tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xác định: Giữa Ngân hàng C với anh Phạm Văn T đã giao kết Hợp đồng tín dụng số 6600000701776865 ngày 20/6/2014, lãi suất 0,8%/tháng, kỳ hạn trả nợ 06 tháng/lần, hạn trả cuối cùng ngày 10/6/2019. Theo Hợp đồng tín dụng anh T đã vay tại Phòng giao dịch Ngân hàng C số tiền 12.000.000 đồng. Trên cơ sở Hợp đồng ký kết, Ngân hàng đã giải ngân số tiền vay cho anh T vay như thỏa thuận. Như vậy, Hợp đồng tín dụng giữa hai bên có nội dung và hình thức phù hợp với quy định pháp luật, là hợp đồng hợp pháp nên phát sinh hiệu lực.

Theo các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp thể hiện trong quá trình thực hiện hợp đồng, bên vay anh Phạm Văn T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và nợ lãi hàng tháng, vi phạm kỳ hạn thanh toán theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết.

Từ những nhận định trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hoàn toàn có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật. Vì vậy, căn cứ vào các Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 và 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C, buộc anh Phạm Văn T phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ 14.884.697 đồng, trong đó nợ gốc 12.000.000 đồng và nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 17/9/2019) là 2.884.697 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (17/9/2019), anh Phạm Văn T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận vì vậy anh Phạm Văn T phải chịu toàn bộ án phí vụ án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 và 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Xét xử vụ án vắng mặt bị đơn anh Phạm Văn T

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng C về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” đối với bị đơn anh Phạm Văn T.

Buộc anh Phạm Văn T phải trả cho Ngân hàng C số tiền 14.884.697 đồng, trong đó nợ gốc 12.000.000 đồng và nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 17/9/2019) là 2.884.697 đồng.

“Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 17/9/2019), anh Phạm Văn T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay”.

2. Về án phí: Anh Phạm Văn T phải chịu 744.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 17/9/2019). Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án tại UBND xã C, huyện Q, tỉnh Quảng Bình.

Cỡ chữ