- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn L; Nguyễn Quang T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lê Văn L; Nguyễ n Quang T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 194 Bộ luật hình sự phạt các
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN THÀNH TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2018/HSST Ngày: 07/02/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN THÀNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Thu
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễ n Đì nh Quế .
Bà Nguyễn Thị Lan Anh
- Thư ký phiên toà: Ông Trầ n Văn Vũ .
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 07/02/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyệ n Thuậ n Thà nh . Tòa án nhân dân huyệ n Thuậ n Thà nh , tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 04/2018/HSST ngày 10/01/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2018/QĐXXST-HS ngày 24/01/2018 đối với:
Các bị cáo:
1. Lê Văn L, sinh năm 1970.
Nơi cư trú : Thôn P, xã T, huyệ n Thuậ n Thà nh, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Làm ruộng ; Trình độ học vấ n: 5/10; Dân tộ c : Kinh; Giớ i tí nh : nam; Tôn giá o : không; Quố c tị ch: Việ t Nam; Con ông Lê Văn L1 (đã chế t) và bà Nguyễn Thị M; Có vợ là: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1966 và 3 con.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
Năm 1996 bị TAND Tối cao tại Hà Nội xử phạt 4 năm tù về tộ i “Cướ p tà i sản của công dân”.
Năm 2005 bị TAND huyện Gia Bình , tỉnh Bắc Ninh xử phạ t 36 tháng tù về tộ i “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Năm 2010 bị TAND huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh xử phạ t 48 tháng tù về tộ i “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/9/2017. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễ n Quang T, sinh năm 1969.
Nơi cư trú : Khu B, thị trấn H , huyệ n Thuậ n Thà nh , tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệ p: Làm ruộng; Trình độ học vấn : 7/10; Dân tộ c: Kinh; Giớ i tí nh: nam; Tôn giáo: không; Quố c tị ch : Việ t Nam ; Con ông Nguyễ n Quang X (đã chế t ) và bà Trịnh Thị Đ (đã chế t); Có vợ là: Nguyễn Thị H (đã ly hôn) và 2 con.
Tiền sự: không.
Tiền án: Năm 2014 bị TAND huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” . Hiệ n chưa chấ p hà nh xong hì nh phạt bổ sung (phạt tiền)
Nhân thân: Năm 2001 bị TAND Tối cao tạ i Hà Nộ i xử phạ t 9 năm tù về tộ i “Mua bá n trái phép chất ma túy” và “Chứ a chấ p việ c sử dụ ng trá i phé p chấ t ma tú y”.
Bị cá o bị tạm giữ , tạm giam từ ngày 27/9/2017. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại phiên tòa.
Ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan: Anh Khúc Đình Đ, sinh năm 1995. Đị a chỉ: Khu B, thị trấn H, huyệ n Thuậ n Thà nh, tỉnh Bắc Ninh. (Có mặt)
NỘ I DUNG CỦ A VỤ Á N
Theo cá c tà i liệ u có trong hồ sơ vụ á n và diễ n biế n tạ i phiên tò a, nộ i dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 26/9/2017 trướ c cổ ng nhà củ a Lê Văn L tại thôn P, xã T, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, Công an huyệ n Thuậ n Thà nh bắ t quả tang Lê Văn L và Nguyễ n Quang T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ 02 vỏ nhựa màu trắng (dạng ống hút hàn kín hai đầu ) bên trong có ch ứa chấ t bộ t mà u trắ ng cá ch vị trí L đứ ng khoả ng 1m. Công an huyện Thuận Thành đã lập biên bản và niêm phong gói ma túy trên. Ngoài ra còn thu giữ: 01 xe môtô nhã n hiệ u Wave mà u đỏ , BKS 99H3- 6423; Thu củ a T 01 điệ n thoạ i Itel mặ t trướ c mà u đen, mặ t sau mà u và ng đồ ng và 2.450.000đ; Thu của L 01 điệ n thoạ i Bavapen mà u đen và ng.
Nguồn gốc số ma tuý bị thu giữ tại Cơ quan điều tra L và T khai: Khoảng 18 giờ 40 phút ngày 26/9/2017 L đang ở nhà thì T đến nhà và rủ L đi mua ma tú y về để cùng nhau sử dụng , L đồ ng ý . Sau đó T điề u khiể n xe môtô nhã n hiệ u Wave màu đỏ, BKS 99H3- 6423 chở L ra khu vự c thuộ c đị a phậ n xã Xuân Lâm , huyệ n Thuậ n Thà nh, T vào đổ xăng. Sau đó T đưa cho L 300.000đ để mua ma túy. L cầ m tiề n, T tiế p tụ c điề u khiể n xe chở L ra khu vự c Keo, huyệ n Gia Lâm, thành phố Hà Nộ i. T vào một quán nước ven đường ngồi uống nước , L điề u khiể n xe củ a T ra khu vự c cá nh đồ ng thuộ c thôn Giao Tấ t , xã Kim Sơn , huyệ n Gia Lâm , thành phố Hà Nội. L gặ p mộ t ngườ i đà n ông không quen biế t , ngườ i đó hỏ i L “Mua ma tú y à”, L trả lời “ừ” và đưa cho người này 300.000đ. Ngườ i đà n ông cầ m tiề n và đưa cho L 02 vỏ nhựa màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng . L biế t đây là Heroine. L đú t 02 vỏ nhựa vào túi quần đang mặc rồi quay vào đón T. Sau đó T chở L về nhà L, khi về đế n gầ n nhà L lấ y ma tú y cầ m ở tay p hải. Đế n trướ c cổ ng nhà L thì T dừ ng xe, L xuố ng xe tì m chì a khó a để mở cổ ng thì b ị Công an huyện Thuận Thành kiể m tra, L buông tay 02 vỏ nhựa rơi cách vị trí L đứ ng khoả ng 1m nhưng bị Công an đã phát hiện bắt quả tang thu giữ số ma tuý.
Tại bản Kết luận giám định số 1109/KLGĐ - PC54 ngày 27/9/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Chất bộ màu trắng bên trong 02 vỏ nhựa màu trắng (dạng ống hút được hàn kín hai đầu) có trọng lượng là 0,2125gam; Là ma tuý, Loại ma tuý: chấ t Heroine”
Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 01/Ctr - VKS, ngày 18/12/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh truy tố Lê Văn L, Nguyễ n Quang T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, Lê Văn L khai nhận: Nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng và thừa nhận toàn bộ hành vi thực hiện như bản cáo trạng đã nêu là chính xác. Bản thân bị cáo có sử dụng ma tuý, mục đích bị cáo và T cùng rủ nhau đi mua ma tú y là để sử dụng cho bản thân. Số tiề n đi mua ma tú y là củ a T đưa cho bị cáo. Bị cáo thừa nhận số ma tuý mà Công an thu giữ đúng là số ma tuý mà bị cáo đã mua củ a ngườ i thanh niên không quen biế t trước đó. Bị cáo không có ý kiến gì về kết luận giám định số ma túy bị thu giữ. Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là phạm tội và xin được giảm nhẹ hình phạt. Đối với chiếc điện thoại Bavapen mà Cơ quan điề u tra thu giữ của bị cáo, không liên quan đế n hà nh vi phạm tội của bị cáo nên bị cá o đề nghị HĐXX trả lạ i cho bị cá o chiế c điệ n thoạ i na.̀ y
Bị cáo Nguyễ n Quang T khai: Nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng và thừa nhận toàn bộ hành vi thực hiện như bản cáo trạng đã nêu là chính xác. Tuy nhiên bị cá o cho rằ ng bị cá o có đế n nhà L nhưng không rủ L đi mua ma tú y, bị cáo có đưa cho L 300.000đ nhưng bị cá o không biế t L sử dụ ng số tiề n nà y để đi mua ma tú y. Đối với chiế c điệ n thoạ i Itel và số tiề n 2.450.000đ mà Cơ quan điều tra thu giữ là tài sản của bị cáo, không liên quan đế n hà nh vi phạ m tộ i củ a bị cáo nên bị cáo đề nghị HĐXX trả lại cho bị cáo số tà i sả n nà y.
Đối với chiế c xe môtô nhã n hiệ u Wave mà u đỏ , BKS 99H3- 6423 là của bị cáo mượn của con rể bị cáo là Khúc Đình Đ. Khi mượ n bị cá o không nó i nên Đoà n không biế t bị cá o sử dụ ng chiế c xe nà y để chở T đi mua ma tú y về sử dụ ng , bị cáo đề nghị HĐXX xem xét trả lại cho Đoàn.
Anh Khúc Đình Đ trình bày: Bị cáo T trình bày là đúng, chiế c xe môtô nhã n hiệ u Wave mà u đỏ , BKS 99H3- 6423 là của anh . Nguồ n gố c chiế c xe là do anh mua củ a anh Vũ Xuân Nam ở Lạ c Thổ , thị trấn Hồ, khi mua không viế t giấ y tờ gì . Nay anh đượ c biế t anh Nam không có mặ t ở đị a phương nên Cơ quan điề u tra đã tách chiếc xe để xử lý sau, anh cũ ng nhấ t trí và không có ý kiế n gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh duy trì công tố tại phiên toà hôm nay sau khi đánh giá tính chất của vụ án, phân tích, đánh giá chứng cứ, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đã đưa ra những chứng cứ, lý lẽ buộc tội bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên tộ i danh như Cá o trạ ng đã truy tố và đề nghị:
Áp dụng khoản 1 Điều 194; điể m p khoả n 1 Điề u 46; Điề u 33 Bộ luật hình sự năm 1999; Khoản 3 Điề u 7; điể m c khoản 1 Điề u 249 Bộ luậ t hì nh sự năm 2015; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội xử phạt bị cáo L từ 20 đến 22 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm g khoản 1 Điề u 48; Điề u 33 Bộ luật hình sự năm 1999; Khoản 3 Điề u 7; điể m c khoả n 1 Điề u 249 Bộ luậ t hì nh sự năm 2015; Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội xử phạt bị cáo T từ 22 đến 24 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Đạ i diệ n Việ n kiể m sá t cũ ng đề nghị : Trả lại tài sản cho các bị cáo; Tịch thu tiêu huỷ tang vật còn lại sau giám định.
Các bị cáo nhận tội, không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Ngườ i tham gia tố tụ ng khá c không tham gia tranh luậ n vớ i đạ i diệ n Việ n
kiể m sá t.
NHẬ N ĐỊ NH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nộ i dung vụ á n, căn cứ và o cá c tà i liệ u trong hồ sơ vụ á n đã đượ c tranh tụ ng tạ i phiên tò a, Hộ i đồ ng xé t xử nhậ n đị nh như sau:
[1] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường, phù hợp với kết luận giám định và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã thể hiện rõ: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 26/9/2017, Lê Văn L, Nguyễ n Quang T đã có hành vi tàng trữ bất hợp pháp chấ t ma tuý có trọng lượng theo kết luận giám định là 0,2125gam ma túy, loại ma túy: chất Heroine nhằ m mụ c đí ch để sử dụ ng thì bị bắt quả tang. Hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội. Tệ nạn ma tuý làm ảnh hưởng đến các chính sách triển kinh tế - xã hội của Nhà nước, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách để bài trừ tệ nạn này nhưng bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật, các bị cáo đã có hành vi tàng trữ ma tuý nhằm mục đích sử dụng nên đã đi vào con đường phạm tội. Chính vì vậy phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục, cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung.
[2] Xét về vai trò của bị cáo thì thấy: Đây là vụ á n đồ ng phạ m mang tí nh chấ t giả n đơn. Trong vụ án nà y, bị cáo T là người khởi xướng và đưa tiề n cho L đi mua ma túy, bị cáo L là người giao dị ch để mua ma túy về cùng nhau sử dụng nên xét chung các bị cáo có vai trò ngang nhau.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:
Bị cáo L tuy không có tì nh tiế t tăng nặ ng trá ch nhiệ m hì nh sự nhưng có nhân thấ n xấ u, đã nhiề u lầ n bị Tò a á n cá c cấ p đưa ra xé t xử . Tuy nhiên, sau khi phạm tội và tại phiên toà hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Bị cáo T có nhân thân xấu và có một tiền án : Năm 2014 bị TAND huyện Thuậ n Thà nh xử phạ t 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phé p chấ t ma tú y” . Hiệ n chưa chấ p hà nh xong hì nh phạ t bổ sung, đến nay chưa được xóa án tích, đây là tì nh tiế t tăng nặ ng trá ch nhiệ m hì nh sự quy đị nh tạ i điể m g khoả n 1 Điề u 48 Bộ luậ t hình. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo không thành khẩn khai báo mà quanh co, không thừ a nhậ n hà nh vi phạ m tộ i củ a mì nh . Quá quá trình xét hỏi và tranh tụng bị cáo mớ i nhậ n tộ i vì vậy bị cáo không được hưởng tình tiết quy định tại điểm p khoản 1 Điề u 46 bộ luậ t hình sự.
Mặ t khá c do sự thay đổ i củ a Bộ luậ t hì nh sự năm 2015. Căn cứ vào khoản 3 Điề u 7; điể m c khoả n 1 Điề u 249 Bộ luậ t hì nh sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH 14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội quy định một hình phạt nhẹ hơn cho người phạm tội nên khi lượ ng hì nh cầ n á p dụ ng để xem xé t giả m nhẹ mộ t phầ n hình phạt cho các bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Ngoài hình phạt chính, lẽ ra cần áp dụng khoản 5 điều 194 Bộ luật hình sự
phạt các bị cáo một khoản tiền sung công quỹ Nhà nước. Nhưng xét mục đích các bị cáo tàng trữ ma tuý để sử dụng , không nhằm mục đích thu lợi nên miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.
Liên quan trong vụ á n nà y có ngườ i đà n ông ở khu vự c xã Kim Sơn , huyệ n Gia Lâm bá n ma tú y cho L nhưng L không biế t tên tuổ i , đị a chỉ cụ thể ở đâu . Cơ quan điề u tra đã tiế n hà nh xá c minh nhưng không làm rõ được nên không có căn cứ để xử lý .
Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu Wave màu đỏ , BKS 99H3- 6423, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thuận Thành đã tách chiếc xe trên để xử lý sau là phù hợp.
Đối với chiếc điện thoại Bavapen củ a L; Chiế c điệ n thoạ i Itel và số tiề n 2.450.000đ củ a T mà Cơ quan điều tra thu giữ . Xét thấy đây là tà i sả n cá nhân củ a các bị cáo, không liên quan đế n hà nh vi phạ m tộ i củ a bị cá o nên cầ n trả lạ i cho cá c bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về vật chứng: Áp dụng Đ iều 41 Bộ luật Hình sự năm 1999; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, để xử lý số vật chứng của vụ án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà hôm nay là có căn cứ.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố các bị cáo Lê Văn L; Nguyễ n Quang T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 33; Bộ luật hình sự năm 1999. Khoản 3 Điề u 7; điể m c khoả n 1 Điề u 249 Bộ luậ t hì nh sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH 14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội. Điề u 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Xử phạt: Lê Văn L 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/9/2017. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Áp dụng khoản 1 Điều 194; điể m g khoả n 1 Điề u 48; Điều 33; Bộ luật hình sự năm 1999. Khoản 3 Điề u 7; điể m c khoả n 1 Điề u 249 Bộ luậ t hì nh sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH 14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội. Điề u 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Xử phạt: Nguyễ n Quang T 22 (Hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/9/2017. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Về vật chứng: Áp dụngĐiều 41 Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong bì thư có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh . Bên ngoà i phong bì có ghi “Mẫ u vậ t cò n lạ i sau giá m đị nh kè m theo Kế t luậ n sô1109/KLGĐ́
- PC 54 ghi ngà y27/9/2017của PC54”.
Trả lại Lê Văn L 01 chiếc điện thoại Bavapen màu đen vàng ; Trả lại Nguyễ n Quang T 01 chiế c điệ n thoạ i Itel mặ t trướ c mà u đen , mặ t sau mà u và ng đồ ng và số tiền 2.450.000đ (Hai triệ u bố n trăm năm mươi nghì n đồ ng ) nhưng tạ m giữ để đả m bả o thi hành án.
(Theo biên bả n giao nhậ n vậ t chứ ng tà i sả n ngà y 17/01/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thuận Thành)
Về án phí: Áp dụng Điề u 136 Bộ luậ t tố tụ ng Hì nh sự năm 2015; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH:
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, ngườ i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhậ n:
| - TAND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND huyện Thuận Thành; - Công an huyện Thuận Thành; - Những người tham gia tố tụng; - THADS huyện Thuận Thành; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨ M THẨ M PHÁ N – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thị Minh Thu |