vanban.org

Bản án 14/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng Tuyên án 04/04/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Quỳnh H phạm tội "Đánh bạc".

Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Trần Thị Quỳnh H. Xử phạt bị cáo Trần Thị Quỳnh H số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Thị Quỳnh H phạm tội "Đánh bạc" theo Khoản 1 Điều 321 BLHS - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Quỳnh H phạm tội "Đánh bạc".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO BẰNG
TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2018/HS-ST
Ngày: 04/4/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG – TỈNH CAO BẰNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Na

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Dương Khánh Luy

2. Ông Đinh Văn Hải

Thư ký phiên tòa: Ông Lý Xuân Huy - Thư ký Tòa án nhân dân thµnh phè Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thµnh phè Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Mã Thị Hân - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 10/2018/HSST ngày 21 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2018/QĐ-HSST ngày 23/3/2018 đối với bị cáo:

TRẦN THỊ QUỲNH H; giới tính: Nữ; sinh ngày: 04/01/1981;

Hộ khẩu thường trú: tổ B, phường HG, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng; Chỗ ở: Tổ T, phường HG, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ Đảng, chính quyền, đoàn thể trước khi phạm tội: Không; Trình độ học vấn: 12/12 phổ thông;

Họ tên cha: Trần Thanh B, sinh 1952; Trú tại tổ T, phường HG, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Hưu trí;

Họ tên mẹ: Trịnh Thị N, sinh 1959; Trú tại tổ T, phường HG, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Hưu trí;

Anh chị em ruột: Bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con cả trong gia đình;

Chồng: Lê Văn Đ, sinh 1979; Trú tại tổ B, phường HG, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng; Chỗ ở: Tổ T, phường HG, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Cán bộ Sở VT tỉnh Cao Bằng;

Con: Bị cáo có 01 con sinh năm 2005;

Tiền án: Không;

Tiền sự: Có 1 tiền sự. Công an phường Hợp Giang, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 47, ngày 17/7/2017 về hành vi đánh bạc.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng:

1. Hoàng Thị Liên H

Nơi cư trú: Tổ M, phường HC, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng; (Vắng mặt)

2. Hoàng Thị A

Nơi cư trú: Tổ B, phường HG, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng; (Vắng mặt)

3. Nông Thị L

Nơi cư trú: Tổ N, phường HG, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng;

(Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 50 phút, ngày 05/01/2018 tại tổ B, phường HG, thành phố CB, Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng bắt quả tang 04 đối tượng gồm có: Hoàng Thị Liên H (Sinh 1979, trú tại tổ M, phường HC, thành phố CB); Hoàng Thị A (Sinh 1980, trú tại tổ B, phường HG, thành phố CB); Nông Thị L (Sinh 1976, trú tại tổ N, phường HG, thành phố CB) và Trần Thị Quỳnh H (Sinh 1981, trú tại tổ B, phường HG, thành phố CB) đang có hành vi đánh bạc tại phòng ngủ tầng 01, nhà của bà Hoàng Thị A (Thuộc tổ B, phường HG, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng).

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Trần Thị Quỳnh H khai nhận: Khoảng 13 giờ 30 ngày 05/01/2018 Trần Thị Quỳnh H và Nông Thị L đi khám bệnh tại Bệnh viện đa khoa thành phố Cao Bằng, đến 15 giờ cùng ngày thì xong, khi về H rủ L vào nhà mẹ nuôi tên là Hoàng Thị L (Trú tại tổ B, phường HG, thành phố CB, tỉnh Cao Bằng), (Bà L là mẹ chồng chị Hoàng Thị A). Khi đến thì bà L không ở, chỉ có Hoàng Thị A ở nhà. H, L, A ngồi nói chuyện, một lúc sau thì có Hoàng Thị Liên H đi từ dưới tầng âm lên. Cả 04 ngồi nói chuyện khoảng 20 phút thì rủ nhau đánh bạc ăn tiền bằng hình thức đánh “ù” bằng bộ tú lơ khơ 52 quân bài, người nhất được ăn cả, người nhì phải đưa tiền 10.000đ (mười nghìn đồng), người ba phải đưa tiền 20.000đ (hai mươi nghìn đồng), người bét phải đưa tiền 30.000đ (ba mươi nghìn đồng); nếu ai không có phỏm phải đưa 40.000đ (bốn mươi nghìn đồng). Người nào “ù” sẽ thu tiền của ba người còn lại mỗi người 50.000đ (năm mươi nghìn đồng). Khi rủ nhau xong Hoàng Thị A đứng dậy vào buồng ở tầng 01 (tính từ mặt đường lên, trừ tầng âm) thì H, H, L vào sau cùng nhau ngồi lên giường ngủ của Hoàng Thị A, Hoàng Thị A lấy sẵn bộ bài trong buồng ra chơi. Đến 17 giờ 50 phút thì bị Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.

Vật chứng thu được gồm có: 02 (hai) bộ tú lơ khơ loại 52 quân bài/1 bộ, và 4.280.000đ (bốn triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động iphone 6S Plus màu hồng có số IMEI:353332079011417; 01 (một) điện thoại di động iphone 6 màu vàng có số IMEI: 356980067128994; 01 (một) điện thoại di động iphone 7 Plus màu đen có số IMEI: 359128079838062; tạm giữ số tiền 11.000đ (mười một nghìn đồng) trong túi áo đang mặc trên người của Nông Thị L. Đối với tài sản tạm giữ của Trần Thị Quỳnh H 01 (một) điện thoại di động iphone 6 màu vàng có số IMEI: 356980067128994; 01 (một) điện thoại di động iphone 7 Plus màu đen có số IMEI: 359128079838062; tạm giữ của Hoàng Thị Liên H 01 (một) điện thoại di động iphone 6S Plus màu hồng có số IMEI:353332079011417; tạm giữ của Nông Thị L số tiền 11.000đ (Mười một nghìn đồng), qua điều tra số tài sản trên không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã trả lại cho chủ sở hữu.

Qua điều tra xác định được: Ngày 17/7/2017 Công an phường Hợp Giang, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 47 ngày 17/7/2017 về hành vi đánh bạc đối với Trần Thị Quỳnh H. Do vậy, cơ quan cảnh sát điều tra đã lập hồ sơ đề nghị truy tố đối với Trần Thị Quỳnh H.

Tại bản cáo trạng số: 12/CT-VKSNDTP ngày 20/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng đã truy tố bị cáo Trần Thị Quỳnh H về tội "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015. Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội "Đánh bạc".

Các vấn đề khác của vụ án:

Đối với Hoàng Thị Liên H, Hoàng Thị A, Nông Thị L: Qua điều tra chưa tiền án, tiền sự; số tiền thu trên chiếu bạc chưa đến 5.000.000đ (năm triệu đồng); do vậy cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Vật chứng chuyển theo vụ án gồm có: 02 (hai) bộ tú lơ khơ loại 52 quân bài/1 bộ, và 4.280.000đ (bốn triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng), hiện các vật chứng này được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 14/3/2018.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm h ,i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015; xử phạt bị cáo Trần Thị Quỳnh H số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) là hình phạt chính.Về vật chứng: đề nghị tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 4.280.000 đồng và tịch thu tiêu hủy hai bộ tú lơ khơ loại 52 quân bài/1 bộ.

Trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Cao Bằng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Các yếu tố cấu thành tội phạm:

Về mặt khách quan của hành vi: bị cáo Trần Thị Quỳnh H cùng với Hoàng Thị A, Hoàng Thị Liên H, Nông Thị L có hành vi đánh bạc dưới hình thức chơi bài 52 quân được thua bằng tiền. Số tiền cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ tại chiếu bạc là 4.280.000 đồng.

Về mặt khách thể: hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ.

Về mặt chủ quan: bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc với lỗi cố ý, mục đích động cơ của bị cáo là để được ăn thua bằng tiền, bị cáo nhận thức được rõ hành vi đó là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội.

Về mặt chủ thể: căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đủ năng lực nhận thức, năng lực hành vi và phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội do mình gây ra.

Trong vụ án này, tuy số tiền cơ quan điều tra thu giữ được dưới 5 triệu đồng nhưng do trước đó bị cáo Trần Thị Quỳnh H đã có một tiền sự chưa được coi là hết thời gian xử lý hành chính, vì vậy bị cáo vẫn phải bị truy tố theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng truy tố bị cáo Trần Thị Quỳnh Hương theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Khoản 1 Điều 321 - Bộ luật hình sự năm 2015 quy định như sau:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

Xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo:

Xét thấy: Bị cáo chưa có tiền án; có một tiền sự vào ngày 17/7/2017 bị Công an phường Hợp Giang, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xử phạt về hành vi đánh bạc; bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc được thua bằng tiền là hình thức Nhà nước cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, nếp sống văn minh của xã hội. Do đó, cần phải có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h ,i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Căn cứ vào nhân thân bị cáo, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả do hành vi của bị cáo gây ra và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt Viện kiểm sát đề nghị là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần được chấp nhận.

Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp:

- Đối với số tiền 4.280.000 đồng là tiền liên quan đến việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

- Đối với 02 bộ bài tú lơ khơ mỗi bộ 52 quân: cần tịch thu tiêu hủy do đây là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội.

Các vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng theo biên bản bàn giao vật chứng, tài sản ngày 14/3/2018.

Về án phí: Bị cáo Trần Thị Quỳnh H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật để sung công quỹ nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Quỳnh H phạm tội "Đánh bạc".

- Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Trần Thị Quỳnh H.

Xử phạt bị cáo Trần Thị Quỳnh H số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

[2] Áp dụng Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

[3] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015:

- Xử tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) bộ tú lơ khơ loại 52 quân bài/1 bộ.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 4.280.000đ (bốn triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng).

Hiện các vật chứng này được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 14/3/2018.

[4] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Buộc bị cáo Trần Thị Quỳnh H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.

[5] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ