- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Xuân Q - Tàng trữ trái phép chất ma túy. - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Hoàng Xuân Q 15 (Mười lăm) năm tù.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14/2018/HS-ST. Ngày: 05/02/2018. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hồng Trang
Thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Hường
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Đình Đường
Bà Nguyễn Thị Thúy Minh
Ông Phan Hải Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa:
Ông Hoàng Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 02 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 176/2017/TLST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2018/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:
Hoàng Xuân Q; Giới tính: Nam; Sinh ngày 20/6/1973 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm ĐC, xã CB, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: 8/12; Dân tộc: Kinh;Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Hoàng Xuân A ( đã chết) và bà Lê Thị L; Vợ: Lê Thị Tuyết L1 và có 2 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giam ngày 08/10/2017 có mặt tại phiên tòa.
Luật sư bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Ngọc B, Văn phòng luật sư QL và Cộng sự, Đoàn luật sư tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14h ngày 08/10/2017, Hoàng Xuân Q đi xe khách đi từ xã CB, huyện Q đến khu vực Dốc Dài thuộc khu vực thủy điện BV, huyện T, tỉnh Nghệ An, vào khoảng 18h, Q xuống đi bộ khoảng 30 phút thì gặp người đàn ông tên C, Q hỏi: “Có hêrôin bán không?”. C hỏi “Mua bao nhiêu”, Q lấy từ trong túi ra 40.600.000đ nói “ Mua từng này tiền”. C cầm tiền đếm rồi nói: “Đứng chờ”, C đi khoảng 30 phút sau quay lại đưa cho Q 01 bao ni lông màu đen, bên trong có các cục chất bột (dạng nén màu trắng). Q cầm gói ni lông màu đen bỏ vào túi quần bên phải phía trước rồi đi ra đường QL7 bắt xe khách đi xuống thị trấn DC, huyện D, tỉnh Nghệ An, sau đó Q xuống xe, đi taxi đến khách sạn BM thuộc xã DT, huyện D, tỉnh Nghệ An thuê phòng 213 để sử dụng ma túy. Đến 22h40', khi Q vào phòng chưa kịp sử dụng ma túy thì bị Cụm đặc nhiệm PCTP ma túy số 2 BTL Cảnh sát Biển phối hợp với Công an xã DT, huyện D vào phòng kiểm tra phát hiện trong túi quần dài bên phải phía trước của Q có một gói ni lông màu đen, trong đó có chứa chất bột dạng nén màu trắng (Nghi hêrôin). Cụm đặc nhiệm PCTP ma túy số 2 BTL Cảnh sát Biển đã tiến hành lập Biên bản phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng.
Ngày 09/10/2017, Cụm đặc nhiệm PCTP ma túy số 2 BTL Cảnh sát Biển mở niêm phong xác định trong lượng. Kết luận giám định số 1022/KL-Pc54 ngày 09/10/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu các cục chất màu trắng dạng nên thu giữ của Q gửi tới giám định là ma túy (hêrôin), có trọng lượng 107, 05gam.
Về tang vật: Cụm đặc nhiệm PCTP ma túy số 2 BTL Cảnh sát Biển còn thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia của bị cáo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị HĐXX căn cứ Nghị quyết số 41/2017/QH 14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội về thi hành Bộ luật hình sự năm 2015. Căn cứ vào khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, áp dụng điểm b khoản 4 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm b khoản 4 Điều 249, Điều 47 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo Hoàng Xuân Q từ 15 đến 16 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về vật chứng và án phí đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.
Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị: Bị cáo bị bắt quả tang, tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội nên không tranh luận về phần tội danh mà bị cáo bị truy tố và xét xử; bị cáo khai báo thành khẩn và căn cứ vào Bộ luật hình sự năm 2015, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo thấp hơn mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
Bị cáo đồng ý với lời bào chữa của luật sư, không có ý kiến gì tranh luận và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã quy kết. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai nhận trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy có đủ căn cứ khẳng định: Ngày 08/10/2017, Hoàng Xuân Q có hành vi mua 107,05 gam hê rô in với mục đích để sử dụng thì bị Cụm đặc nhiệm PCTP ma túy số 2 BTL Cảnh sát Biển kiểm tra phòng ở tại khách sạn và bắt quả tang thu toàn bộ ma túy của bị cáo.
Tại Bản kết luận giám định số 1022/KL-PC54 ngày 09/10/2017, của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu các cục chất màu trắng dạng nên thu giữ của Q gửi tới giám định là ma túy (hêrôin), có trọng lượng 107, 05gam. Do đó, hành vi tàng trữ ma túy của bị cáo Hoàng Xuân Q đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 điều 194 Bộ luật hình sự 1999 như Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.
Xét các tình tiết tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cả do đó cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Xét về hành vi tính chất phạm tội: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc Q của nhà nước về các chất ma túy, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, là nguyên nhân sâu xa làm phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự, an ninh trong xã hội, làm ảnh hưởng đến hạnh phúc và kinh tế gia đình của người khác, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm nhằm mục đích sử dụng, nên phải chịu hình phạt theo quy định của pháp luật. Do đó, cần có một bản án thật sự nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài để bị cáo cải tạo, lao động trở thành người có ích cho gia đình và mang tính phòng ngừa chung cho toàn xã hội, góp phần vào công tác phòng chống ma túy hiện nay.
Về áp dụng điều luật có lợi cho người phạm tội: Nghị quyết số 41/2017/QH 14 ngày 20/6/2017 của Quốc Hội về thi hành Bộ luật hình sự năm 2015. Căn cứ vào khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: “Điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích và được thực hiện trước khi điều luật đó đã có hiệu lực thi hành”. Tại điểm b khoản 4 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, quy định: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân: “điểm b: Hêrôin ...... có khối lượng từ 100 gam trở lên”. Như vậy, so với quy định tại điểm b khoản 4 điều 194 của Bộ luật hình sự năm 1999 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thì quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 có lợi hơn cho người thực hiện hành vi phạm tội. Theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo, thì cần căn cứ vào khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015 để xét xử bị cáo là đúng pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm Q, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về vật chứng: Hêrôin là chất Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy, điện thoại di động không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 4 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 3 Điều 7, điểm b khoản 4 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015. Tuyên bố bị cáo Hoàng Xuân Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt bị cáo Hoàng Xuân Q 15 (Mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 08/10/2017.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy 107,05 gam hê rô in ( đã lấy một ít giám định).
- Trả lại cho bị cáo Hoàng Xuân Q 01 điện thoại di động hiệu Nokia 225.
Đặc điểm tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An và Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An ngày 20/12/2017.
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Hoàng Xuân Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai, có mặt bị cáo, bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND cấp cao tại HN - VKSND tỉnh Nghệ An - Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An - Cơ quan CSĐT CA tỉnh Nghệ An - Cục THADS tỉnh Nghệ An - Bị cáo, luật sư - UBND xã CB, huyện Q, NA - Lưu hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Hồng Trang |