vanban.org

Bản án 14/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 20/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1 - Căn cứ khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

2 - Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Phan Thanh V bồi thường cho anh Quách Văn H số tiền 450.000đ. Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của anh H mà bị cáo chưa bồi thường thì còn phải chịu lãi suất theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Thanh V - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1 - Căn cứ khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 330 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 14/2018/HS-ST
Ngày: 20-6-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Diễm.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Danh Thi.

2. Ông Đỗ Văn Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trọng Nguyễn - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tri Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2018, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2018/TLST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2018/QĐXXST-HS ngày 31/5/2018 đối với bị cáo:

Phan Thanh V (Xiêm T), sinh năm 1990; tại V, K; HKTT: khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh K; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hoá: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Thanh H (đã chết) và bà Nguyễn Ngọc S; Anh ruột có 01 người, sinh năm 1988; Vợ là Nguyễn Thúy K; Có 01 người con sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Chưa. Bị cáo được tại ngoại; Bị cáo có mặt.

Nguyên đơn dân sự: Anh Quách Văn H, sinh năm 1984 (Cảnh sát khu vực, thuộc đơn vị Công an thị trấn V); địa chỉ: ấp C, xã V, huyện V, tỉnh K (Có đơn xin vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1959; địa chỉ: khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh K (Có mặt).

Người làm chứng:

1. Ông Nguyễn Cao Th, sinh năm 1966; địa chỉ: khu phố V1, thị trấn V, huyện V, tỉnh K (Có đơn xin vắng mặt).

2. Anh Lê Minh Đ, sinh năm 1988; địa chỉ: khu phố VĐ2, thị trấn V, huyện V, tỉnh K (Vắng mặt).

3. Anh Phan Chí T, sinh năm 1992; địa chỉ: khu phố V, thị trấn V, huyện V, tỉnh K (Có đơn xin vắng mặt).

4. Anh Phạm Trung Hg, sinh năm 1987; địa chỉ: khu phố V1, thị trấn V, huyện V, tỉnh K (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 25/01/2018, khoảng 15 giờ 30 phút, Phan Thanh V có hành vi dùng xăng châm lửa đốt nhà của mình trong tình trạng có sử dụng bia, rượu. Sau khi nhận được tin báo của nhân dân, Công an thị trấn V cử lực lượng đến hiện trường để chữa cháy. Công tác chữa cháy được khoảng 10 phút, trong khi anh Quách Văn H (là Cảnh sát khu vực, thuộc đơn vị Công an thị trấn V) đang điều khiển máy bơm nước đặt dưới kênh TL thì bị Phan Thanh V dùng chân đạp từ phía sau lưng làm anh H ngã xuống kênh TL làm ướt quân phục và điện thoại di động. Lúc này Phan Thanh V tiếp tục cầm một con dao đe dọa nếu anh H tiếp tục chữa cháy thì sẽ đâm chết. Việc chữa cháy bị gián đoạn khoảng 05 phút, V được mọi người can ngăn nên cầm dao bỏ đi. Sau đó anh H lên bờ tiếp tục điều khiển máy bơm cùng những người khác dập lửa đến khi đám cháy bị dập tắt hoàn toàn. Hành vi của Phan Thanh V bị Công an thị trấn V lập biên bản về việc chống người thi hành công vụ và chuyển cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V thụ lý điều tra theo thẩm quyền. Quá trình điều tra Phan Thanh V đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại bản Cáo trạng số 13/CT-VKSVT ngày 11/4/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện V đã truy tố bị cáo Phan Thanh V về tô ôi “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên: Đề nghị tuyên bố bị cáo Phan Thanh V về tô ôi “Chống người thi hành công vụ”. Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt bị cáo Phan Thanh V từ 18 đến 24 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Phan Thanh V bồi thường cho anh Quách Văn H số tiền 450.000đ tiền sửa điện thoại bị hư hỏng do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.

Bị cáo Phan Thanh V thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, không tranh luận gì thêm. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đối với số tiền anh H yêu cầu bồi thường là 450.000đ bị cáo đồng ý bồi thường.

Nguyên đơn dân sự anh Quách Văn H có đơn xin vắng mặt, trong đơn có ghi yêu cầu xử lý bị cáo theo quy định pháp luật, về trách nhiệm dân sự yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền sửa chữa điện thoại là 450.000 đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Ngọc S trình bày: Bà là mẹ ruột của bị cáo Phan Thanh V, ngôi nhà bị cáo đốt là tài sản chung của bà và bị cáo, bà không yêu cầu gì trong vụ án này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án và các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ cơ quan tiến hành tố tụng; người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật.

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, căn cứ kết quả thẩm vấn, cùng các chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ thể hiện: Ngày 25/01/2018, khoảng 15 giờ 30 phút, bị cáo V dùng xăng đốt nhà của mình, được người dân trình báo nên Công an thị trấn V cử đồng chí Quách Văn H (là Cảnh sát khu vực, thuộc đơn vị Công an thị trấn V) cùng người dân đến chửa cháy. Trong khi anh H đang chửa cháy thì bị cáo dùng chân đạp phía sau lưng làm anh H té ngã xuống kênh TL làm ướt quân phục và điện thoại di động, sau đó bị cáo tiếp tục cầm dao đe dọa anh H, ngăn cản việc anh H chửa cháy trong khi bị cáo biết anh H đang thi hành công vụ.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của những người làm chứng, phù hợp với biên bản hiện trường xảy ra vụ án và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Như vậy, đủ cơ sở kết luận: Phan Thanh V là người có đầy đủ năng lực trách nhiê ôm hình sự. Bị cáo biết rõ anh Quách VănH đang làm nhiệm được phân công theo tin báo của người dân nhưng đã có hành vi dùng chân đạp và dao đe dọa người đang thi hành công vụ nhằm cản trở anh H thực hiê ôn nhiê ôm vụ, công vụ của mình. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện V truy tố bị cáo về tội chống người thi hành công vụ theo quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

Khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ của họ hoặc ép buộc họ thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến hoạt động bình thường, đúng đắn của người thi hành công vụ, ảnh hưởng đến chủ trương chung về quản lý hành chính Nhà nước, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Mặc dù anh H thực hiện nhiệm vụ là chữa cháy để bảo vệ tài sản của bị cáo nhưng bị cáo lại dùng dao đe dọa ngăn cản người thi hành công vụ. Do đó, Hội đồng xét xử nghĩ nên có mức án nghiêm đối với bị cáo nhằm giáo dục bị cáo, đồng thời để răn đe, phòng ngừa chung.

Tuy nhiên trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Qua phân tích Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội bình thường một thời gian, buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù để Nhà nước cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.

Đối với hành vi bị cáo Phan Thanh V dùng xăng đốt nhà là tài sản của bà Nguyễn Ngọc S (mẹ ruột bị cáo) Tòa án đã trả hồ sơ cho Viện kiểm sát điều tra bổ sung theo Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung số 01/2018/HSST-QĐ ngày 15/5/2018. Tại Công văn số 130/CV-VKS ngày 18/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V về việc chuyển lại hồ sơ cho Tòa án xét xử, Viện kiểm sát nhân dân huyện V xác định người liên quan bà Nguyễn Ngọc S không yêu cầu gì về bồi thường thiệt hại nên không có cơ sở để định giá tài sản bị thiệt hại, bị cáo Phan Thanh V không có động cơ, mục đích để hủy hoại tài sản của bà S nên hành vi của bị cáo Phan Thanh V không đủ yếu tố cấu thành tội hủy hoại tài sản theo quy định tại Điều 178 của Bộ luật hình sự năm 2015 nên Viện kiểm sát nhân dân huyện V không truy tố bị cáo Phan Thanh V về tội hủy hoại tài sản.

Về trách nhiê ôm dân sự: Anh H có yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền sửa điện thoại bị hư hỏng là 450.000đ, bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của anh H nên Hội đồng xét xử buộc bị cáo Phan Thanh V bồi thường cho anh Quách Văn H số tiền 450.000đ.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 6; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ và án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ phải thi hành đối với số tiền bồi thường cho anh H là 300.000đ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1 - Căn cứ khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố: Bị cáo Phan Thanh V (Xiêm T) phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Phan Thanh V (Xiêm ) 18 tháng tù, tính kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

2 - Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Phan Thanh V bồi thường cho anh Quách Văn H số tiền 450.000đ.

Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án của anh H mà bị cáo chưa bồi thường thì còn phải chịu lãi suất theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

3 - Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 6; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Phan Thanh V phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ. Tổng cộng bị cáo phải chịu án phí là 500.000đ.

4 - Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (20/6/2018); nguyên đơn dân sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ