- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Khánh N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Khánh N phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 14 /2018/HS - ST Ngày: 09 -3 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mạc Duy Phu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Văn Khởi
2. Ông Hoàng Ngọc Thành
- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hồng - Thƣ ký Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Hải Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 3 năm 2018, tại nhà văn hóa thôn XA, xã TK, Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Hải Dƣơng xét xử lƣu động sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 13/2018/HSST ngày 12/2/2018 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 11/2018/HSST- QĐ ngày 27/2/2018 đối với bị cáo:
Bùi Khánh N, sinh năm 1995 tại thôn X, xã T, huyện H, tỉnh Hải Dƣơng;
Nơi cƣ trú: Thôn X, xã T, huyện H, tỉnh Hải Dƣơng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn N1 và bà Nguyễn Thị T1; tiền án: Ngày 16/11/2016, Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hải Dƣơng xử phạt 12 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 08/8/2016, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/8/2017, nộp án phí ngày 21/3/2017; tiền sự: Chƣa; Nhân thân: - Ngày 08/01/2015, Công an huyện H, tỉnh Hải Dƣơng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, hình thức phạt tiền, mức phạt 1.500.000 đồng, nộp tiền phạt ngày 09/01/2015.
- Ngày 16/8/2016, Công an huyện H, tỉnh Hải Dƣơng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe ngƣời khác, hình thức phạt tiền, mức phạt 2.500.000 đồng, nộp tiền phạt ngày 17/8/2016.
Bị tạm giữ từ ngày 15/12/2017, tạm giam tại Trại tạm giam Kim Chi, Công an tỉnh Hải Dƣơng từ ngày 21/12/2017 đến nay . Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Do nghiện ma túy, khoảng 11 giờ ngày 15/12/2017, Bùi Khánh N điều khiển xe máy nhãn hiệu DETECH, màu nâu, biển số 17H1-57xx của mình từ nhà đến khu vực chợ D thuộc địa phận xã A, huyện AD, thành phố Hải Phòng mục đích tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, N mua của một ngƣời đàn ông không quen biết đƣợc 01 gói ma túy đựng trong gói giấy màu nâu với giá 100.000 đồng. N cho gói ma túy vào trong túi quần bên trái rồi đi xe máy về nhà. Khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày, khi về đến khu vực bến đò ĐG thuộc địa phận thôn L, xã TL, huyện H thì bị tổ công tác thuộc Công an tỉnh Hải Dƣơng kết hợp với Công an xã TL phát hiện bắt quả tang thu giữ trong túi quần bên trái N đang mặc 01 gói giấy màu nâu bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng. Tại bản kết luận giám định số xx/KLGĐ-PC54 ngày 16/12/2017, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dƣơng kết luận: Chất bột (dạng cục) màu trắng ghi thu của Bùi Khánh N gửi đến giám định là hêrôin trọng lƣợng 0,215 gam. Hêrôin nằm trong Danh mục I, STT 20, Nghị định 82 ngày 19/7/2013 của Chính phủ.
Tại Cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 08-2-2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện H truy tố Bùi Khánh N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình nhƣ nội dung bản cáo trạng đã truy tố, không thắc mắc gì, đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát phân tích chứng cứ tại hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Bùi Khánh N phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, Nghị quyết số 41/2017/UBTVQH ngày 20/6/2017, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt Bùi Khánh N từ 15 -18 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù đƣợc tính từ ngày bắt tạm giữ 15/12/2017.
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng;
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 0,148 gam hêrôin hoàn lại sau giám định, tịch thu sung quỹ nhà nƣớc chiếc xe máy đã thu giữ.
- Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; Luật phí, lệ phí năm 2015. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng hợp pháp.
Lời khai của bị cáo Bùi Khánh N tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai ngƣời làm chứng, biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 12 giờ 15 phút ngày 15/12/2017, tại khu vực bến đò ĐG thuộc địa phận thôn L, xã TL, huyện H; Bùi Khánh N đã có hành vi cất giấu trái phép 0,215 gam hêrôin mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: " Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, việc truy tố của Viện kiểm sát Nhân dân huyện H hoàn toàn có căn cứ, đúng Pháp luật. Tuy nhiên, tại thời điểm xét xử Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 có hiệu lực pháp luật. So sánh, đối chiếu mức hình phạt khởi điểm của hai Bộ luật quy định về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thì mức hình phạt khởi điểm quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 nhẹ hơn. Theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo căn cứ vào Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 lƣợng hình đối với bị cáo cho phù hợp.
Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nƣớc về ma tuý, gây mất trật tự trị an. Mặc dù, Nhà nƣớc cấm tàng trữ ma túy dƣới bất kỳ hình thức nào nhƣng bị cáo vẫn mua về để sử dụng, thể hiện thái độ coi thƣờng pháp luật. Nhất là trong tình hình hiện nay, tội phạm về ma túy có chiều hƣớng gia tăng. Do vậy, cần áp dụng mức hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án chƣa đƣợc xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, bị cáo phải chịu tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo nhiều lần bị xử phạt hành chính, mặc dù đã đƣợc xóa nhƣng thể hiện nhân thân xấu.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, căn cứ điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào tính chất hành vi, điều kiện kinh tế, nhân thân của bị cáo, không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về Biện pháp tƣ pháp và xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ 0, 215 gam Hêrôin và 01 chiếc xe máy nhãn hiệu DETECH, màu nâu, biển số 17 H1-57xx.
+ Đối với 0,215 gam hêrôin, hoàn lại sau giám định chỉ còn 0,148 gam là vật Nhà nƣớc cấm lƣu hành, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu cho tiêu huỷ.
+ Đối với xe mô tô nhãn hiệu DETECH biển số H1-57xx, kết quả tra cứu kết luận không phải xe vật chứng, xác định là của bị cáo. Đây là phƣơng tiện bị cáo dùng để đi mua ma túy về sử dụng, cần tịch thu phát mại lấy tiền sung quỹ nhà nƣớc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, Luật phí, lệ phí năm 2015.
Đối với ngƣời bán ma túy cho N, do không làm rõ đƣợc không có căn cứ xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thƣờng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; Luật phí, lệ phí năm 2015.
1. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Khánh N phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
2. Xử phạt bị cáo Bùi Khánh N 15 (Mƣời lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù đƣợc tính từ ngày tạm giữ 15/12/2017.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng
3. Về biện pháp tƣ pháp, xử lý vật chứng:
+ Tịch thu tiêu hủy 0,148 gam hêrôin hoàn lại sau giám định đựng trong 01 phong bì niêm phong.
+ Tịch thu 01 chiếc xe máy nhãn hiệu DETECH, màu nâu, biển số 17 H1-57xx, số khung VDEPCG022DE 000355, số máy VDEJLIP50FMG-2 000355 phát mại lấy tiền sung quỹ Nhà nƣớc
( Tình trạng vật chứng trên được thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/02/2018 giữa Công an huyện H với Chi cục thi hành án dân sự huyện H)
4.Về án phí: Bị cáo Bùi Khánh N phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Sở tƣ pháp Hải Dƣơng - VKSND huyện H; - Công an huyện H; - Chi cục thi hành án dân sự huyện H ( khi bản án có hiệu lực pháp luật) - Bị cáo; - Lƣu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà (Đã ký) Mạc Duy Phu |