vanban.org

Bản án 14/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 06/04/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ vào điể m đ khoản 2 Điều 140; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổ i, bổ sung năm 2009); khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự …

Tuyên bố: Bị cáo Trầ n Thế Q phạm tội “Lạ m dụ ng tí n nhiệ m chiế m đoạt tài sản”. Xử phạt: Bị cáo Trầ n Thế Q 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 08/12/2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tran Thế Quân - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ vào điể m đ khoản 2 Điều 140; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổ i, bổ sung năm 2009); khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự …
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN L
TỈNH V

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 14/2018/HS-ST
Ngày 06 tháng 4 năm 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH V

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Minh Hiệp

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Chúc

Bà Hoàng Thị Điền

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Duy Lăng - Thư ký Toà án nhân dân huyện L.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L, tỉnh V tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Phương Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh V, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2018/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2018/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:

Trầ n Thế Q, sinh ngày 10/07/1988 Nơi cư trú: Thôn Th, xã Vân Tr , huyệ n L, tỉnh V; Nghề nghiệp: Lao độ ng tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trầ n V ăn T, sinh năm 1965 và bà Nguyễ n Thị Ch , sinh năm 1967; vợ: Nguyễ n Thị L , sinh năm 1993 (đã ly hôn ); con: 01 con, sinh năm 2014; Tiề n sự: không; Tiề n á n: 2 tiề n á n

+ Bản án số 281/2012/HSST ngà y 06/9/2012 của Tò a á n nhân dân Thị xã Dĩ An, tỉnh Bì nh Dương xử phạt 08 tháng tù về tộ i Trộ m cắp tà i sả n (trị giá tài sản 11.000.000đ), chấ p hà nh xong hình phạ t tù ngày 08/01/2013.

+ Bản án số 70/2013/HSST ngà y 06/11/2013 của TAND huyệ n Lậ p Thạ ch xử phạt 02 năm tù về tộ i Lạ m dụ ng tí n nhiệ m chiế m đoạt tài sản (trị giá tài sản 17.100.000đ), chấ p hà nh xong hì nh phạ t tù ngà y 22/8/2015, chưa chấ p hà nh xong các khoả n bồ i thường trong bả n á n, chưa đượ c xó a á n tí ch.

Nhân thân: Bản á n số 68/2006/HSST ngà y 12/7/2006 của TAND huyệ n Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 04 tháng tù về tộ i Tiêu thụ tài sả n do người khác phạm tội mà có, đã đượ c xó a á n tí ch.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 08/12/2017 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Trầ n Thị Tú M, sinh năm 1990 (có mặt) Nơi cư trú: Thôn Th, xã Vân Tr, huyệ n L, tỉnh V.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Nguyễn Tuấn L, sinh năm 1990 (có mặt) Nơi cư trú: Thôn Th, xã Vân Tr, huyệ n L, tỉnh V

2. Ông Trần Văn T, sinh năm 1965 (vắng mặt) Nơi cư trú: Thôn Th, xã Vân Tr, huyệ n L, tỉnh V

3. Anh Trần Trung K, sinh năm 1985 (vắng mặt) Nơi cư trú: Thôn Văn L, xã Xuân H, huyệ n L, tỉnh V

4. Anh Khổng Văn B, sinh năm 1997 (có mặt) Nơi cư trú: Thôn D, xã Tử D, huyệ n L, tỉnh V.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 26/11/2017, Trầ n Thế Q đang ở quán hát của chị Trần Thị Tú M (là em gái của Q). Quân hỏ i và đượ c chị M đồ ng ý cho m ượn chiế c xe mô tô nhã n hiệ u Honda Lead BKS 88D1-049.96 để Q chở bạn đến thành phố V đón xe khách. Trên đườ ng về , Q nảy sinh ý định cầm cố chiếc xe mô tô của chị M để lấ y tiề n tiêu sà i nên gọ i điệ n thoạ i cho D ương Thị Thu U (tức Bố ng) sinh năm 1995 ở thị trấn L nhờ hỏi nơi cầ m cố x e giú p Q. U gọi điệ n cho Đỗ Xuân Đ sinh năm 1991 ở thôn S, xã Tử D, huyệ n L đang là m quả n lý củ a quá n Karaoke The Voice ở thị trấ n l hỏi thì đượ c Đ giới thiệ u đến gặp Khổ ng V ăn B cũng là nh ân viên phụ c vụ quá n Karaoke The Voice . Sau đó, Q đi xe mô tô củ a chị M đến cầ m cố cho anh B lấ y số tiề n 4.000.000đ và viết giấy hẹn đến ngà y 06/12/2017 sẽ trả tiề n cho anh B để lấ y xe về . Q cầ m số tiề n trên b ắt xe khá ch đi đến tỉ nh Yên Bá i chơi và tiêu sà i cá nhân hế t . Ngày 30/11/2017, chị My viết đơn trì nh bá o c ơ quan công an. Ngày 02/12/2017, anh Khổ ng Văn B tự nguyệ n giao nộ p chiế c xe mô tô trên cho cơ quan công an để điề u tra giả i quyế t . Từ ngày 01/12/2017 đến ngà y 06/12/2017, Q về nhà nh ưng không có tiề n trả cho anh Khổ ng V ăn B nên ngà y 07/12/2017 anh B cũng có đơn đề nghị Cơ quan công an điề u tra giả i quyế t.

Ngày 02/12/2017, Cơ quan CSĐT Công an huyệ n L đã trưng cầ u Hộ i đồ ng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyệ n L định giá chiếc xe mô tô Honda Lead BKS 88D1-049.96 của chị Trần Thị Tú M

. Tại bản kết luận số 149 ngày 06/12/2017, Hộ i đồ ng định giá tài sản trong tố tụ ng hì nh sự huyệ n L kế t luậ n: “01 chiế c xe mô tô BKS 88D1-049.96… đượ c định giá 16.500.000đ (bằng chữ: Mười sáu triệu năm trăm ngà n đồ ng)”.

Quá trình điề u tra cò n là m rõ: Vào tháng 10/2017 (không rõ ngày), Q mượn xe mô tô Honda Lead BKS 88D1-04996 của chị M đi chơi sau đó đem cầ m cố cho anh Trầ n Trung K đượ c 3.000.000đ tiêu sà i cá nhân hế t, Q không có khả năng trả nợ để lấ y xe về nên anh Nguyễ n Tuấ n L (là chồ ng chị M) phải trả cho K 3.000.000đ để lấ y xe, đến nay anh Linh tự nguyệ n không yêu cầ u Q phải hoà n trả số tiề n đã chuộc xe trên. Hành vi này của Trầ n Thế Q đã cấu thà nh tộ i Lạ m dụ ng tín nhiệ m chiế m đoạt tài sản.

Tại Cáo trạng số: 15/CT-VKS-KT ngày 19 tháng 3 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện L truy tố Trầ n Thế Q về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điể m đ khoản 2 Điều 140 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổ i, bổ sung năm 2009.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố đối với Trầ n Thế Q . Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trầ n Thế Q từ 03 năm tù đến 03năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

- Buộc Q phải trả lại anh Khổng Văn B số tiền 4.000.000đ

- Xác nhận ngày 20/12/2017, Cơ quan CSĐT Công an huyệ n L đã trả lại cho chị M chiếc xe mô tô BKS 88D1-049.96 là đúng chủ sở hữu.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận ra sai trái, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Trầ n Thế Q đã khai nhận toàn bộ về hành vi phạm tội của mình, bị cáo thừa nhận: Do nghiệ n chấ t ma tú y và không có nghề nghiệ p nên trong khoả ng th ời gian từ tháng 10 đến thá ng 12 năm 2017, Trầ n Thế Q đã nhiều lần mượn xe mô tô Honda Lead BKS 88D1-049.96 của chị Trần Thị Tú M đem cầ m cố lấ y tiề n tiêu sà i cá nhân hết, không có khả năng trả nợ để lấ y xe về trả cho chị M. Cụ thể: Lầ n 1: khoảng tháng 10/2017, Q mượn xe đi chơi sau đó đem cầ m cố cho Trầ n Trung K đượ c 3.000.000đ tiêu sà i hế t , anh Nguyễ n Tuấ n L - chồ ng chị M đã chuộc xe về . Lầ n 2: Ngày 26/11/2017, Q mượn xe đi chơi, sau đó đem cầ m cố xe cho anh Khổ ng V ăn B đượ c 4.000.000đ tiêu sà i cá nhân hết , đến hạ n không có khả n ăng trả n ợ để lấ y xe về . Trị giá tài sản do Q mỗ i lầ n lạ m dụ ng tí n nhiệ m chiế m đoạt mà có là 16.500.000đ. Bản thân Trần Thế Q có 02 tiề n á n về tộ i danh chiế m đoạt tài sản, chưa đượ c xó a á n tí ch.

Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các lời khai, bản kiểm điểm của bị cáo, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án, tang vật chứng đã thu hồi được và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được thể hiện trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Trầ n Thế Q phạm tội “Lạ m dụ ng tí n nhiệ m chiế m đoạt tài sản”.

Hành vi của bị cáo Trần Thế Q đã tái phạm , chưa đượ c xó a á n tí ch lạ i tiế p tụ c phạ m tộ i do cố ý , nên lầ n phạ m tộ i nà y đã cấu thành tội “Lạ m dụ ng tí n nhiệ m chiế m đoạt tài sản” theo quy định tại điể m đ khoản 2 Điều 140 của Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổ i, bổ sung năm 2009). Điều luật quy định:

“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây , thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

…đ) Tái phạm nguy hiểm.”

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây dư luận bất bình trong nhân dân. Do vậy, xét thấy cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật và có hình phạt tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo, như vậy mới có tác dụng cải tạo giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe giáo dục phòng ngừa chung.

Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét đến tính chất cũng như mức độ thực hiện tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Trần Thế Q, thấy rằng:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Hành vi của bị cáo đã tái phạm, chưa đượ c xó a á n tí ch lạ i tiế p tụ c phạ m tộ i do cố ý , lầ n phạ m tộ i nà y đã cấu thành tộ i “Lạ m dụ ng tí n nhiệ m chiế m đoạt tài sản” với tình tiết định khung hình phạt là “tái phạm nguy hiểm”. Bị cáo đã hai lầ n mượn xe mô tô củ a chị Trầ n Thị Tú M đem cầ m cố lấ y tiề n tiêu sà i cá nhân hế t , không có khả năng trả nợ để lấ y xe về trả cho chị M, thuộc trường hợp “phạm tội nhiều lần” nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình hự. Mặt khác, bị cáo là người có nhân thân xấu, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, như vậy mới có đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Q đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 140 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này”. Tuy nhiên, xem xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo Q thấy rằng: Bị cáo không có việc làm, không có thu nhập và không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với Dương Thị Thu U , Đỗ Xuân Đ, Khổ ng Văn B, Trầ n Trung K đều không biế t chiế c xe do Q cầ m cố là do phạ m phá p mà có , Cơ quan điề u tra không đề cậ p xử lý là có căn cứ. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với việ c ông Trầ n V ăn T có đơn trì nh bá o : Khoảng ngày 20/11/2017, ông cho Q mượn 01 chiế c xe mô tô BKS

88B1-023.39 để đi uố ng thuố c Methadone (Q nghiệ n chấ t ma tú y ) nhưng chưa trả . Cơ quan điề u tra đã xác minh làm rõ sau khi uống thuốc Methadone ở Trung tâm y tế huyệ n L , Q đem chiế c xe máy trên đến gửi ở nhà anh Trần Trung K rồ i bắt xe đi tỉ nh Yên Bá i chơi nên chưa đến lấ y, anh K cũng xác nhận vi ệc Q gửi xe, không có việ c cầ m cố xe nên không có căn cứ xử lý. Cơ quan điề u tra đã thu giữ chiế c xe má y trên và trả lại cho ông T. Ông T không có yêu cầ u, đề nghị gì. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

Anh Khổ ng Văn B yêu cầu bị cáo Q phải bồi thường trả lại cho anh số tiề n 4.000.000đ do Q vay khi cầ m cố xe nhưng Q đã tiêu sài cá nhân hế t, là có căn cứ, nên cầ n đượ c chấ p nhậ n.

Ngày 20/12/2017, Cơ quan CSĐT Công an huyệ n L đã trả lại cho chị Trần Thị Tú M 01 chiế c xe má y BKS 88D1-049.96 là đúng chủ s ở hữu. Nay chị M không có yêu cầ u đề nghị gì, nên cần được xác nhận.

Về án phí: Bị cáo Trầ n Thế Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong án hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điể m đ khoản 2 Điều 140; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổ i, bổ sung năm 2009); khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 589 , Điều 357 Bộ luật dân sự; Điều 26 Luật thi hành án dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Trầ n Thế Q phạm tội “Lạ m dụ ng tí n nhiệ m chiế m đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Trầ n Thế Q 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 08/12/2017.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Q phải bồi thường trả lại cho anh Khổ ng Văn B số tiề n 4.000.000đ.

Về xử lý vật chứng: Xác nhận ngày 20/12/2017, Cơ quan CSĐT Công an huyệ n L đã trả lại cho chị Trầ n Thị Tú M 01 chiế c xe má y BKS 88D1-049.96 là đúng chủ sở hữu.

Bị cáo Trầ n Thế Q phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ án phí dân sự trong án hình sự.

Kể từ khi anh B có đơn đề nghị thi hành án, nếu bị cáo Q không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản tiền nêu trên, thì bị cáo Q còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất do pháp luật quy định.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày giao nhận bản án hoặc niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú cuối cùng của người vắng mặt.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ