vanban.org

Bản án 14/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 30/03/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về trách nhiệm hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Văn L 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 26/01/2018. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn L phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƯƠNG KHÊ
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 14/2018/HS-ST
Ngày 30 - 3 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG KHÊ, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thiện

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Anh Hùng;

2. Ông Phan Trọng Lai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hà, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hương Khê.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Khê tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Khoa, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 3 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 08/2018/TLST-HS ngày 13/3/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2018/QĐXXST-HS ngày 16/3/2018 đối với bị cáo:

Lê Văn L; sinh ngày 24/9/1990 tại xã T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi cư trú: Xóm N, xã T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T và con bà Nguyễn Thị X; Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Hoạt động nhân thân: Ngày 26/12/2012 bị Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 15 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, theo bản án hình sự sơ thẩm số 63/2012/HSST, đã được xóa án tích. Bị bắt tạm giữ ngày 26/01/2018, bị khởi tố bị can và tạm giam ngày 27/01/2018, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.

- Người làm chứng:

1, Anh Võ Văn N; sinh năm: 1997, địa chỉ: Xóm 4, xã G, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Vắng mặt.

2, Anh Lê Văn H; sinh năm: 1996, địa chỉ: Xóm N, xã T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Vắng mặt.

3, Anh Võ Anh D, sinh năm 2000, địa chỉ: Xóm T, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ ngày 26/01/2018 tại trục đường liên xã thuộc xóm 1, xã T, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, Đội cảnh sát điều tra tội phạm kinh tế và ma túy Công an huyện H b¾t qu¶ tang Lê Văn L, sinh ngày 24/9/1990 trú tại xóm N, xã T, huyện H đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ tại hiện trường 01 hộp diêm bên trong có 01 túi ni lon trong suốt đựng hạt tinh thể rắn màu trắng (đã lập biên bản niêm phong ký hiệu là M). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã ra quyết định trưng cầu giám định số 07 ngµy 26/01/2018.

Theo Kết luận giám định tại công văn số 30/GĐMT-PC54 ngày 27/01/2018 của Phòng kỷ thuật Hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận: Chất tinh thể rắn màu trắng đựng trong túi nilon trong suốt (ký hiệu là M) gửi giám định là ma túy, có khối lượng 3,8215gam là Methamphetamine.

Tại Cơ quan điều tra Lê Văn L khai nhận: Vào sáng ngày 26/01/2018, khi đang chơi game ở quán Internet AOE ở phường T, thành phố H thì Võ Văn N trú tại xóm 4, xã G, huyện H là bạn nghiện gọi điện rủ L lên nhà N chơi, L đồng ý. Sau đó L thuê taxi đến khu vực cầu C thuộc xã T, thành phố H gặp một người đàn ông không quen biết, hỏi mua 2.000.000 đồng tiền ma túy đá, người đàn ông cầm tiền và dặn L đứng chờ, råi ®i kho¶ng 15 phót th× quay lại, đưa cho L 01 gói ma túy đá, L cho vào hộp diêm mà mình mang theo, bỏ vào túi quần rồi thuê taxi quay lại quán Internet AOE tiếp tục chơi game. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, L rủ thêm Lê Văn H ở cùng xóm và Võ Anh D trú tại xóm T, xã L, huyện H là bạn cùng chơi game tại quán đi lên huyện H chơi, H và D đồng ý. Cả ba người đón xe buýt đi huyện H và hẹn với N điểm đón, khoảng 11 giờ 30 phút, khi xe buýt đến điểm Ngã ba L, huyện H thì cả ba người xuống xe gặp N. N điều khiển xe mô tô chở cả ba người đi về nhà mình, khoảng 12h khi đi đến khu vực đường liên xã thuộc xóm 1, xã T thì bị lực lượng Công an huyện H kiểm tra, L vứt hộp diêm bên trong chứa ma túy đá xuống vị trí nơi L đang đứng thì bị Công an huyện H phát hiện, bắt giữ cùng tang vật.

Vật chứng thu giữ: 01 gói Methamphetamine có khối lượng 3,8215gam (đã lấy 0,0647gam để giám định, hoàn lại 3,7568 gam). Hiện cơ quan điều tra đã giao cho Chi cục Thi hành án Dân sự huyện H bảo quản, chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn L khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Vẫn giữ nguyên quan điểm như nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS: Xử phạt bị cáo Lê Văn L từ 24 đến 30 tháng tù. miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng, án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là phù hợp. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Do bản thân nghiện ma túy nên vào sáng ngày 26/01/2018 Lê Văn L thuê taxi đến khu vực cầu C thuộc xã T, thành phố H gặp một người đàn ông không quen biết, hỏi mua 2.000.000đ tiền ma túy đá và được người đó bán cho 01 gói ma túy đá. L cho vào hộp diêm mà mình mang theo, bỏ vào túi quần. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày khi L đi đến khu vực đường liên xã thuộc xóm 1, xã T, huyện H thì bị lực lượng Công an huyện H kiểm tra, L vứt hộp diêm bên trong chứa ma túy đá xuống vị trí nơi L đang đứng thì bị Công an huyện H phát hiện, bắt giữ cùng tang vật. Với trọng lượng ma túy bị cáo tàng trữ 3,8215gam là Methamphetamine thì hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS. Vì vậy, Cáo trạng của Viện trưởng VKSND huyện H truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội và ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống. Do đó cần phải xử lý nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Trong quá trình điều tra, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, bị cáo nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về điều, khoản, điểm áp dụng; tội danh truy tố; mức hình phạt; xử lý vật chứng và án phí là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Trong quá trình điều tra Lê Văn L khai mua ma túy của một người đàn ông không quen biết ở xã T, Tp. H. Cơ quan điều tra đã phối hợp với Cơ quan điều tra Công án Tp. Hà Tĩnh tiến hành xác minh điều tra nhưng chưa có kết quả, khi nào có kết quả sẽ được xem xét xử lý sau. Khi bắt giữ Lê Văn L có Võ Văn N, Lê Văn H, Võ Anh D là người đi cùng với L nhưng tất cả đều không biết L tàng trữ trái phép chất ma túy, nên không có căn cứ xem xét xử lý đối với những người này.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì ngoài hình phạt chính các bị cáo còn có thể bị áp dụng một số hình phạt bổ sung. Xét thấy bị cáo Lê Văn L là đối tượng nghiện ma túy, có mục đích mua ma túy chỉ để sử dụng, không có nghề nghiệp ổn định, do đó cần miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Số Methamphetamine hiện đã được chuyển giao cho Cơ quan thi hành án Dân sự huyện H là vật cấm lưu hành, không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí.

Tuyên bố bị cáo Lê Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Về trách nhiệm hình sự:

Xử phạt bị cáo Lê Văn L 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 26/01/2018.

- Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì thư bên trong có chứa 01 túi nilong chứa chất tinh thể màu trắng cùng vỏ bao gói, được niêm phong dán kín, trên mép dán có chữ ký của đối tượng và các thành viên trong hội đồng giám định (Tình trạng, đặc điểm Theo Biên bản giao nhân vật chứng ngày 09/03/2018 giữa Cơ quan CSĐT và Chi cục THADS huyện H).

- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ