vanban.org

Bản án 14/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình Tuyên án 12/02/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

1 Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; khoản 1,2 Điều 60 của Bộ luật Hình sự năm 1999; sửa đổi bổ sung năm 2009 và điểm b khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc Hội 2 Xử phạt bị cáo Trần Ngọc H 02 (hai) năm tù nhưng c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bản án hình sự sơ thẩm - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 60 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HƯNG HÀ
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:14/2018/HS-ST
Ngày 12-02-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hà. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đức Nghị 2. Bà Quách Thị Anh Thơ

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Trường là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Phương – Kiểm sát viên.

Ngày 12-02-2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2018/TLST-HS ngày 01 tháng 02 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2018/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo:

Trần Ngọc H, sinh ngày 12-12-1988 Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc H (đã chết) và bà Vũ Thị X. Nhân thân: Còn nhỏ được gia đình nuôi cho ăn học hết lớp 9/12, sau đó nghỉ học ở nhà lao động tự do. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (bị cáo có mặt tại phiên toà).

- Người bị hại: Ông Lê Viết N, sinh năm 1968. Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bệnh viện đa khoa Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình

Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Tiến Thành – Giám đốc, (vắng mặt).

- Người làm chứng:

1. Cháu Nguyễn Thị Ánh Ng, sinh năm 2001 Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

2. Chị Đoàn Thị H, sinh năm 1984 Nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

3. Chị Ngô Thị N, sinh năm 1954 Nơi cư trú: Thôn Đ, xã C, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

4. Anh Hoàng Văn Đ, sinh năm 1980 Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

5. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1985 Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

6. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1977 Nơi cư trú: Thôn N, xã H, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

(Người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng đều vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ 15 phút ngày 31-7-2017, Trần Ngọc H là bệnh nhân đang điều trị tại nội trú tại phòng E09, khoa ngoại, bệnh viện Đa khoa Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, có sang phòng E06 (đối diện phòng E09) chơi. Quá trình chơi tại phòng E06, H có bật nhạc điện thoại di động để nghe. Đến khoảng 12 giờ 30 phút cùng ngày thì ông Lê Viết N (là người đi chăm sóc bố đẻ ở phòng E06) có nhắc H về phòng để mọi người trong phòng nghỉ trưa, nhưng H không về, ông N có lấy tay hất mạnh vào phần chân bị thương của H và đẩy H ra khỏi phòng, giữa H với ông N có lời qua tiếng lại. H chạy về cửa phòng E09, dùng tay phải rút một suốt cửa bằng kim loại của cánh cửa phòng E09 (có chiều dài 25cm, một đầu to có đường kính 1,5cm, một đầu nhỏ có đường kính 1cm) vụt hai nhát gây thương tích tại phần đầu và mặt bên trái của ông N; ông N liền đấm vào mặt H và ôm vật H ngã xuống nền nhà, đè lên người H và giật suốt cửa từ tay H. Vụ việc được những người có mặt can ngăn và đưa ông N đi cấp cứu.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 98/17/TgT ngày 25-8-2017 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế Thái Bình, kết luận về thương tích của ông N như sau: “Thương tích vùng trán và vùng má trái do vật tầy rắn tác động, làm vỡ lún xương sọ thái dương trái, đã được xử trí: Sát trùng, cắt lọc, khâu cầm máu, phục hồi vết thương, kết hợp cùng các loại thuốc kháng sinh, giảm đau, chống phù nề, chăm sóc vết thương hàng ngày. Hiện tại còn đau đầu từng lúc, đau nhiều về đêm, ăn ngủ kém. Vết sẹo vùng má bên trái: Sẹo xơ cứng, lồi, ảnh hưởng thẩm mỹ. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 19% (mười chín phần trăm)”

Bản cáo trạng số 12/CT-VKSHH ngày 31-01-2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình truy tố Trần Ngọc H ra trước Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình để xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (viết tắt BLHS 2015).

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Ngọc H khai nhận: Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 31-7-2017, xuất phát từ mâu thuẫn trong việc ông N không cho bị cáo chơi tại phòng E06, khoa ngoại của Bệnh viện Đa khoa Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, bị cáo đã dùng then cửa bằng sắt dài khoảng 25cm của phòng E09 vụt 02 nhát vào vùng đầu, mặt ông N, đã gây thương tích cho ông N như nội dung đã nêu ở trên.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như tội danh và điều luật được viện dẫn trong bản cáo trạng, căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Ngọc H phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 của BLHS 2015; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; khoản 1,2 Điều 60 của Bộ luật Hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 (viết tắt là BLHS 1999); Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc Hội. Phạt bị cáo H từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 năm đến 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Áp dụng Điều 41 của BLHS 1999; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu để tiêu hủy 01 then cửa bằng sắt dài 25cm. Về trách nhiệm dân sự: Do ông N với bị cáo đã tự thỏa thuận giải quyết với nhau xong nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hưng Hà, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Lời khai của bị cáo H tại phiên tòa phù hợp với khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và còn phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Lời khai của người bị hại là ông Lê Viết N (bút lục 118 đến 125); Lời khai của những người làm chứng gồm: Cháu Nguyễn Thị Ánh Ng, chị Đoàn Thị H, chị Ngô Thị N, anh Hoàng Văn Đ, anh Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị H (bút lục 126 đến 147); Biên bản quản lý tang vật của Công an thị trấn Hưng Nhân, huyện Hưng Hà lập ngày 31-7-2017 (bút lục số 117); Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 98/17/TgT ngày 25-8-2017 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế Thái Bình (bút lục 43 đến 44) và Biên bản xác định hiện trường và sơ đồ hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà lập ngày 02-8-2017 tại nơi xảy ra vụ án (bút lục số 21, 22).

[3] Như vậy có đủ cơ sở kết luận, vào khoảng 12 giờ 30’ ngày 31-7-2017, tại Bệnh viện Đa khoa Hưng Nhân, xuất phát từ mâu thuẫn trong việc ông N không cho bị cáo H chơi tại phòng E06, khoa ngoại của Bệnh viện Đa khoa Hưng Nhân, huyện Hưng Hà, bị cáo H đã dùng then cửa bằng sắt dài 25cm của phòng E09 vụt 02 nhát vào vùng trán và má trái ông N, đã gây thương tích vùng trán và vùng má trái ông N, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 19%. Chiếc then cửa bằng sắt có chiều dài 25cm, một đầu to có đường kính 1,5cm, một đầu nhỏ có đường kính 1cm mà bị cáo H dùng để vụt vào vùng trán và má ông N là hung khí nguy hiểm, vì vậy hành vi của bị cáo H đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 104 của BLHS 1999 với tình tiết định khung hình phạt là “dùng hung khí nguy hiểm” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 104 của BLHS 1999, hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù. Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật hình sự đang có hiệu lực thi hành) thì hành vi của bị cáo H đã phạm vào “tội cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự, hình phạt từ 02 năm đến 06 năm tù, nhẹ hơn so với quy định tại khoản 2 Điều 104 của BLHS 1999. Căn cứ điểm b, khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc Hội thì cần phải áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự để xử lý đối với hành vi phạm tội của bị cáo, bảo đảm có lợi cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo H đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình; bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, p khoản 1 Điều 46 của BLHS 1999; người bị hại là ông Lê Viết N có đơn đề nghị đề ngày 25-12-2017, đề nghị Tòa án miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo và bị cáo đầu thú, đây cũng được coi là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình theo quy định tại khoản 2 Điều 46 của BLHS 1999. Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có nhân thân tốt; bị cáo phạm tội có tính chất bột phát xuất phát từ mâu thuẫn cá nhân.

[5] Từ những nhận định trên, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù theo quy định của khung hình phạt, nhưng cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Theo đơn đề nghị đề ngày 25-12-2007 của ông Lê Viết N, thì giữa ông N và bị cáo H đã tự thỏa thuận bồi thường cho nhau xong phần trách nhiệm dân sự, ông N không có yêu cầu gì về bồi thường thiệt hại nên Tòa án không xem xét giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra quản lý 01 then cửa bằng sắt có chiều dài 25cm, một đầu to có đường kính 1,5cm, một đầu nhỏ có đường kính 1cm, đây là tài sản thuộc quyền sở hữu của Bệnh viện Đa khoa Hưng Nhân. Xét thấy tại Biên bản làm việc ngày 06-01-2018, ông Vũ Tiến Thành là Giám đốc bệnh viện xác định chiếc then cửa trên đã cũ, không còn giá trị sử dụng nên không lấy lại, vì vậy cần tịch thu để tiêu hủy.

[8] Bị cáo Trần Ngọc H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

1.1 Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; khoản 1,2 Điều 60 của Bộ luật Hình sự năm 1999; sửa đổi bổ sung năm 2009 và điểm b khoản 1 Điều 2 của Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc Hội

1.2 Xử phạt bị cáo Trần Ngọc H 02 (hai) năm tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

1.3 Giao bị cáo H cho UBND xã Thái Phương, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

2. Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1999; sửa đổi bổ sung năm 2009.

2.1 Tịch thu để tiêu hủy 01 đoạn sắt (dùng làm then cửa) dài 25cm, một đầu to có đường kính 1,5cm, một đầu có đường kính 1cm.

(Vật chứng của vụ án hiện đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình quản lý theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01-02-2018 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hưng Hà và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà).

3. Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Ngọc H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo Trần Ngọc H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Vũ Tiến T và ông Lê Viết N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ